Cao Bá Quát (1808 – 1855) hiệu là Chu Thần, quê ở làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, Hà Nội. Thông minh, dĩnh ngộ, 9, 10 tuổi đã giỏi thi phú từ chương, được người đời ca ngợi là "Thánh Quát". Sau khi đỗ Cử nhân, ông được làm một chức quan ở bộ Lễ. Lận đận tròng chốn Về sau, cảm phục tài đức của ông, vua Thiệu Trị tha tội chết cho Cao Bá Quát, chuyển sang tống giam. Sau đó 3 năm, ông được cho đi sứ ở Indonesia để lập công chuộc tội. . Bài văn mẫu lớp 11Văn mẫu lớp 11 Thuyết minh về nhà thơ Cao Bá Quát dưới đây được tổng hợp và sưu tầm gồm các bài văn mẫu lớp 11 hay cho các em học sinh tham khảo, củng cố kỹ năng cần thiết cho bài kiểm tra môn Ngữ văn 11 sắp tới đây của mình. Mời các em học sinh cùng tham minh nhà thơ Cao Bá QuátCao Bá Quát đã sống như một huyền thoại. Với những động cơ khác nhau và cách nhận thức khác nhau về ông, người ta đã sáng tác ra những giai thoại và nhiều khi hậu thế chỉ hiểu ông qua những giai thoại ít nhiều xuyên tạc đó. Dù sao, trong tâm thức nhân dân, ông đã trở thành một bậc “thánh” của thơ. Điều này cũng không có gì quá đáng, thậm chí là một đánh giá tương đối chính Bá Quát 1808 – 1855 người làng Phú Thọ, Gia Lâm nay thuộc Hà Nội, từ nhỏ đã nổi tiếng thông minh, giỏi thơ văn. Trong thời gian làm quan, ông nhiều lần bị trách phạt, giáng chức, thậm chí chịu tù ngục do tính tình thẳng thắn cương trực. Năm 1854, ông cùng bạn bè dựng cờ khởi nghĩa Mỹ Lương song cuộc khởi nghĩa nhanh chóng bị thất bại, Cao Bá Quát cũng hy sinh. Mặc dù thơ văn Cao Bá Quát sau đó bị cấm lưu hành, song nhiều tác phẩm vẫn được lưu truyền đến nay như Cao Chu Thần thi tập, Mẫu hiên thi loại, …Cao Bá Quát 1808 – 1855 là nhà thơ xuất sắc của Việt Nam thế kỷ 19. Ông tự Chu Thần, hiệu Mẫn Hiên, Cúc Dương, quê làng Phú Thọ, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh nay thuộc Hà Nội. Cao Bá Quát cùng người anh song sinh là Cao Bá Đạt nổi tiếng thông minh, học giỏi từ nhỏ. Thân sinh của hai ông là Cao Cửu Chiêu, một nhà nho hay chữ, có ước vọng khi lớn lên, các con mình sẽ trở thành quan đại thần của triều đình nên lấy tên của hai học sĩ đời Chu cũng là hai anh em sinh đôi để đặt tên cho hai từ nhỏ, Cao Bá Quát đã có giọng văn hùng hồn, ý tứ mạnh mẽ, thể hiện ý chí của người tài hoa. Lưu truyền rằng Cao Bá Quát thường nói Trong thiên hạ có bốn bộ chữ, mình tôi chiếm hai bồ, anh tôi và bạn tôi, Nguyễn Văn Siêu, chiếm một bồ, còn bồ thứ tư chia cho mọi kẻ khác. Khi theo học ở trường Bắc Ninh, danh tiếng của Cao Bá Quát đã lừng 1832, ông đi thi Hương, đỗ á Nguyên tại trường thi Hà Nội, sau đó vào kinh đô Huế thi Hội, nhưng thi mãi không đỗ truyền rằng do các quan chấm thi ghét ông kiêu ngạo nên đánh hỏng. Năm 1841, nhờ sự tiến cử của quan tỉnh Bắc Ninh, Cao Bá Quát được vào kinh đô nhậm chức Hành Tẩu Bộ Lễ. Tuy làm quan, cuộc sống của ông cũng hàn vi, không thay 8-1841, ông được cử làm sơ khảo trường thi Thừa Thiên, thấy một số bài thi hay nhưng phạm húy. Ông cùng người bạn lấy muội đèn chữa giúp. Việc bị phát giác, đáng lẽ ông bị xử chém, nhưng sau được xét lại chỉ bị cách chức, bị tù ba năm, phát phối đi Đà sau nhân có Đào Tri Phủ đi sứ sang Indonesia, ông được tha và được cử theo phái đoàn phụ tá công việc. Trở về nước, ông được khôi phục chức cũ, một thời gian rồi bị thải. Năm 1847, Cao Bá Quát được gọi vào làm việc ở Viện Hàn Lâm, sưu tầm văn thơ. Hồi ấy, Tùng Thiên Cộng lập ra Mạc Vân thi xã, được nhiều quan văn trong triều tham gia, hưởng ứng. Giai thoại kể rằng có lần Cao Bá Quát được xem những bài thơ của “Mạc Vân thi xã” đã lắc đầu, bịt mũi ngâm“Ngán thay cái mũi vô duyênCâu thơ thi xã con thuyền Nghệ An”vần thơ của thị xã như mùi thuyền chở nước mắm Nghệ An. Hai vị công khanh Tùng Thiện Công, Tuy Lữ Công chẳng những không giận vì thái độ của Cao Bá Quát mà còn nhún mình đến kết giao. Thấy nhà ông thanh bần, hai vị còn giúp đỡ vật chất. Cảm kích thái độ của hai vị công khanh, Cao Bá Quát gia nhập Mạc Vân thi xã. Trong thời gian này, ông đã xướng họa nhiều bài hay nổi tiếng, đến đỗi vua Tự Đức, một người giỏi và chuộng văn chương phải khen ngợi văn tài của ông là một trong bốn tay cự phách của Mạc Vân thi xã“Văn như Siêu, Quát vô tiền HánThi đáo Tùng, Tuy thất thánh Đường”Văn của Nguyễn Văn Siêu, Cao Bá Quát có thể hơn thời tiền Hán, thơ của Tùng Thiện Vương, Tuy Lữ Vương lấn át ngay cả thơ đời thánh Đường. Còn người đương thời thì tôn gọi ông là Thánh Quát cùng với Nguyễn Văn Siêu là Thần Siêu, Thánh Quát. Vì hay châm biếm vua và triều đình nên ông bị đẩy khỏi kinh đô 1850 ra làm giáo thụ ở Quốc Oai, Sơn Tây, một vùng heo hút, nghèo đây, chứng kiến những nỗi cơ cực của nhân dân, thông cảm với sự bất bình của đại chúng, ông đã bí mật kết giao với nhiều bạn bè, dựng cờ khởi nghĩa ở đất Mỹ Lương 1854. Nghĩa quân lấy danh nghĩa phù Lê, tôn Lê Duy Cự làm minh chủ, Cao Bá Quát làm quốc sư, chống lại triều đình. Song cuộc khởi nghĩa chỉ kéo dài được mấy tháng thì bị dập tắt. Cao Bá Quát bị viên suất đội Đinh Thư Quang bắn chết giữa lúc ông đang ở trận tiền. Nhà Nguyễn đã trả thù, tru di ba họ của ông. Các tác phẩm của ông đều bị cấm tàng trữ, thu hồi và đốt nhiên, tác phẩm của Cao Bá Quát vẫn sống mãi trong lòng người. Những cố gắng sưu tầm sau này đã thu thập được trên một nghìn bài thơ, phú bằng chữ Hán và chữ Nôm của ông. Thư viện Khoa học Xã hội Việt Nam hiện có trên 12 tập mang tên Cao Chu Thần thi tập, Mẫu hiên thi loại, Cúc Đường thi thảo, Nhiều bài thơ chữ Hán, thơ ca trù và bài phú Tài tử đa cùng của ông, được nhiều thế hệ thuộc lòng. Qua các sáng tác đó, Cao Bá Quát hiện ra là một nhà thơ có bản hồn ông bao trùm thiên nhiên, gắn bó với quê hương đất nước. Ông ca ngợi các anh hùng dân tộc Phù Đổng Thiên vương, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi; trân trọng các nhà chữ sĩ Chu Văn An, Nguyễn Trãi. Ông cũng rất quan tâm đến phận của người lao động lầm than. Đặc biệt, một số bài chứng tỏ ông có tầm nhìn xa rộng, khác với những nhà nho, nhà thơ đương thời. Ông phàn nàn về lối học tứ chương “nhai văn nhá chữ”, ông cảm thấy cái nguy cơ xâm lược của bọn thực dân phương Tây như trong bài Hồng mao hỏa thuyền ca. Nổi bật lên là một niềm ưu ái lo đời, khắc khoải vì không có cách gì làm cho thiên hạ thái bìnhThái bình vô nhất lược,Lộc lộc sĩ vi nhoKhông có khó gì cho thiên hạ thái bình,Thẹn mình là anh nhà nho kém cỏi.Trước đây, nhiều người cho rằng Cao Bá Quát là một người khinh bạc, kiêu ngạo và nhất là có giấc mộng đế vương. Những tác phẩm của ông, không hề thấy một tư tưởng hay một phong cách nào như thế ! Nói đến tình quê hương, tình bè bạn, nghĩa vợ chồng, Cao Bá Quát lúc nào cũng chân tình tha thiết. Có những chuyện nói ông xấc láo với Minh Mệnh, Tự Đức hay chửi bới bọn quan lại là “thượng hạ giai cẩu” Thực ra chỉ là những hư cấu, mượn ông để đả kích bọn cầm quyền. Cả những câu thơ như “Ba hồi trống giục mồ cha kiếp Ba vòng dây sắt bước thì vương cũng đều là những câu chuyện gán ghép vì sẵn mối cảm tình với ông mà tưởng tượng đây VnDoc đã tổng hợp các bài văn mẫu Thuyết minh về nhà thơ Cao Bá Quát cho các bạn tham khảo ý tưởng khi viết bài. Ngoài ra các bạn có thể xem thêm chuyên mục Soạn văn 11 mà VnDoc đã chuẩn bị để học tốt hơn môn Ngữ văn lớp 11 và biết cách soạn bài lớp 11 các bài Tác giả - Tác phẩm Ngữ Văn 11 trong sách Văn tập 1 và tập 2. Mời các em học sinh, các thầy cô cùng các bậc phụ huynh tham bài liên quan đến tác phẩmPhân tích bài thơ Dương phụ hành của Cao Bá QuátPhân tích tác phẩm Bài thơ ngắn đi trên bãi cát của Cao Bá Quát Từ nhỏ chúng ta đã được biết đến tài năng xuất chúng của Cao Bá Quát qua truyện đọc “Văn hay chữ tốt” hay hình tượng nhân vật Huấn Cao trong “Chữ người tử tù”. Vốn dĩ là thần đồng toàn tài vang danh trời Nam, nhưng bởi tính tình khảng khái, ngạo nghễ, có chút “ngông”, ông có cuộc đời khá gian truân, bị nhiều lần đày ải. Cuối cùng, Cao Bá Quát bị tru di tam tộc, để lại nhiều tiếc nuối và tò mò cho người đời sau. Đôi nét giới thiệu về Cao Bá Quát Cao Bá Quát hay “Thánh Quát sinh năm 1809 tại làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, Bắc Ninh nay là Hà Nội. Từ nhỏ, Cao Bá Quát đã vang danh khắp chốn vì trí thông minh và sự tài giỏi, đặc biệt là chữ viết đẹp tựa “rồng bay phượng múa”. Đến nay còn lưu truyền tài năng “văn hay chữ tốt” của ông. Năm 8 tuổi, Cao Bá Quát xuất sắc đáp lại thơ với vua Minh Mạng nên rất được nhà Vua để tâm. Bên cạnh tính cách kiên trì, nhẫn nại luyện chữ ngày đêm, cột tóc lên xà ngang để tránh ngủ gật, Cao Bá Quát còn nổi tiếng bởi tính tình khảng khái, kiêu ngạo và có chút ngông cuồng. Bởi vậy mà ông đã không ít lần thi trượt trên con đường thăng quan tiến chức với hai lần trượt kỳ thi Hương và nhiều lần trượt kỳ thi Hội. Sau này, Cao Bá Quát làm giáo thụ ở phủ Quốc Oai, Sơn Tây. Tuy nhiên, cũng bởi tính cách ngang tàng của mình, danh sĩ đã sớm không được lòng vua và nhiều quan lớn trong triều đình. Đến nửa cuối năm 1854, đầu năm 1855, chứng kiến cảnh người dân khốn cùng với nạn hạn hán, mất mùa, Cao Bá Quát đứng lên lãnh đạo nhân dân phát động khởi nghĩa Mỹ Lương, chống lại sự quản lý của triều đình nhà Nguyễn thời bấy giờ. Bi kịch cuộc đời ông cũng bắt đầu từ đây. Theo nhiều nguồn tin, lý do Cao Bá Quát bị tru di tam tộc là bởi ông đã tham gia chỉ huy quân đội chống lại vương triều nhà Nguyễn. Cụ thể, sau khi đứng lên lãnh đạo khởi nghĩa Mỹ Lương trong vai trò Quốc sư, Cao Bá Quát đã sớm dẫn nghĩa quân thắng các trận ở Thanh Oai và Ứng Hòa, chiếm lại được huyện Kim Bảng. Năm 1855, ông lại tiếp tục lãnh đạo nghĩa quân đánh chiếm Yên Sơn và không may hy sinh tại trận đánh này. Việc này đã khiến vương triều nhà Nguyễn phẫn nộ, ban lệnh “tru di tam tộc” nhà Cao Bá Quát, cấm lưu hành văn thơ của ông. Dẫu vậy, đến nay, những tác phẩm của ông vẫn lưu truyền với giá trị nghệ thuật vô cùng lớn. Sự thật việc Cao Bá Hưng tự nhận là cháu nội 7 đời của Cao Bá Quát Vài năm trở lại đây, khi chương trình Sing My Song được công chiếu trên kênh truyền hình VTV3 và sự xuất hiện của thí sinh tiềm năng Cao Bá Hưng – người tự xưng là con cháu đời thứ 7 của Cao Bá Quát đã khiến dân tình đặt ra nhiều thắc mắc. Câu chuyện Cao Bá Quát bị tru di tam tộc cũng được đưa ra bàn tán sôi nổi. Theo đó, nhiều người không tin lời của Hưng do theo thông tin thì sau khi thi hành án tru di tam tộc, cụ Cao Bá Quát không thể có truyền nhân đời sau được. Tuy nhiên, theo lời giải thích từ Hưng, gia đình có cuốn gia phả nhà họ Cao ghi rõ các đời từ trước đến nay. Đặc biệt, giống như ông nội của Hưng – cụ Cao Bá Nghiệp, truyền thuyết tại làng Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội, việc “tru di tam tộc” của nhà Nguyễn không thực hiện được. Trong lúc bắt nhốt, tra khảo gia đình họ Cao về tung tích của Cao Bá Quát, con trai Cao Bá Bính đã đem theo quân lính để giải cứu, nhiều người chạy trốn, di tản khắp nơi nên vẫn còn duy trì dòng họ đến bây giờ. Thực hư chuyện Cao Bá Quát bị tru di tam tộc ra sao, đến nay vẫn còn là câu hỏi không có lời giải đáp. Nhiều câu chuyện và cách lý giải khác nhau đã được lưu truyền, tuy nhiên chưa câu chuyện nào đưa ra được bằng chứng chứng thực. Chỉ tiếc thương thay cho một kỳ tài với cuộc đời quá đỗi truân chuyên. Giáo dục Thứ bảy, 2/12/2017 1824 GMT+7 1824 2/12/2017 Quá xấu hổ vì chữ viết "như gà bới", Cao Bá Quát tự buộc tóc lên trần nhà, cùm chân vào chân bàn để luyện chữ. Theo Từ điển văn học, Cao Bá Quát là người rất bản lĩnh. Ông dù sống trong nghèo khổ nhưng khinh bỉ những kẻ khom lưng, luồn cúi để được giàu sang, và tự tin có thể tự thay đổi được đời mình. Khi ra làm quan, ông muốn đem tài năng giúp đời, nhưng rồi sớm nhận ra có những vấn đề không thể thay đổi. Những lúc thấy bất lực, ông muốn hưởng an nhàn. Nhưng khi chứng kiến nỗi thống khổ của nhân dân ông lại không thể. Cuối cùng, con đường ông lựa chọn là tham gia khởi nghĩa nông dân. Cột tóc lên trần nhà luyện viết chữ đẹp Là người thông minh từ nhỏ, năm 12 tuổi, Cao Bá Quát đã theo các bậc đàn anh lều chõng đi thi. Khi còn đi học ở Bắc Ninh, Cao Bá Quát nổi tiếng về tài văn thơ đối đáp thông minh và tài họa, nhưng lại viết chữ rất xấu. Tính khí tuy ngông ngạo, nghịch ngợm, nhưng bù lại ông rất chịu khó đọc sách, học hỏi và kiên nhẫn trong học tập. Học cũng như làm, bất kỳ khi nào ông cũng phải làm cho đến nơi đến chốn. Chân dung Cao Bá Quát. Xấu hổ với chữ viết như gà bới, đêm đến, ông thường thức khuya miệt mài tập viết chữ. Buồn ngủ quá, ông tự buộc tóc mình lên mái nhà để mỗi lần ngủ gật bị giật tóc đau, phải tỉnh lại. Ông còn buộc chân vào các cạnh bàn để không thể “chạy đi chơi”. Nhờ sự quyết tâm, kiên nhẫn, một thời gian sau, từ viết chữ xấu, Cao Bá Quát nổi tiếng khắp vùng về biệt tài viết chữ đẹp. Tương truyền, chữ viết của ông như “rồng bay phượng múa”, bút tích còn lại hiện nay được lưu lại trong bài đề tựa cuối cùng của Mai Am thi tập của công chúa Lại Đức, con gái vua Minh Mạng. Thời gian ở quê nhà, tài viết chữ đẹp của Cao Bá Quát vang xa khắp vùng. Người dân thường tới nhà ông xin câu đối về treo, nhất là vào các dịp tết. Không những viết chữ đẹp, Cao Bá Quát còn nổi tiếng về tài văn thơ. Ông có thể "xuất khẩu thành thơ", làm vế đối mọi lúc, mọi nơi, ý tứ rất chuẩn mực, sắc sảo. Tài năng văn chương của ông khiến ngay cả ông vua hay chữ Tự Đức cũng phải thán phục. Vua trực tiếp ca ngợi ông và người bạn Nguyễn Văn Siêu rằng “Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán”, nghĩa là văn như Nguyễn Văn Siêu và Cao Bá Quát, đời Tiền Hán không có ai bằng. Về sau, do tham gia khởi nghĩa nông dân, bị tru di tam tộc, các tác phẩm của ông bị tiêu hủy nhiều. Hiện nay, khoảng bài thơ và 21 bài văn xuôi của ông vẫn được lưu giữ. Nhà vua cũng phải kính nể Từ nhỏ, Cao Bá Quát và người anh sinh đôi Cao Bá Đạt đã nổi tiếng thông minh. Cao Bá Quát học giỏi hơn, nhưng cũng có tính cách ngang tàng hơn. Trong một lần biết tin vua Minh Mạng ngự giá Bắc thành, sắp đi qua Hồ Tây, thăm các thắng cảnh ở Thăng Long, Cao Bá Quát chủ động cởi đồ, lao xuống hồ tắm. Quan quân thấy vậy hoảng hốt, bắt ông trói lại. Khi bị giải đến trước mặt vua Minh Mạng, ông không hề tỏ ra sợ hãi mà còn lấy lý lẽ ra tranh cãi. Dù tỏ ra rất tức giận, sau khi thử tài đối đáp với Cao Bá Quát, vua Minh Mạng cảm phục và tha tội chết cho ông. Sau này khi lớn lên, vào Huế làm quan ở Bộ Lễ, Cao Bá Quát vẫn giữ tính ngang tàng. Ông rất căm ghét thói a dua, nịnh bợ của quan lại. Ngược lại, với người dân, ông luôn nhìn bằng ánh mắt bao dung, sẻ chia. Tự Đức vốn là ông vua hay chữ bậc nhất triều Nguyễn, rất thích trổ tài thơ phú, cũng nhiều lần bị Cao Bá Quát làm cho "quê mặt". Một lần, trước bá quan, văn võ, vua nổi hứng làm 2 câu đối treo ở điện Cần Chính “Con nối được nghiệp bố / Tôi đền được ơn vua”. Quan lại trong triều đều cho rằng đó là câu đối rất hay, nói lên được hai rường mối của đạo tam cương. Tuy nhiên, Cao Bá Quát lại nghĩ khác. Một lần đi qua, ông tự ý lấy bút phê vào bên cạnh mấy chữ có nội dung “Hay chưa! Hay chưa! Cha con vua tôi đảo lộn”. Việc đến tai Tự Đức, vua giận lắm, cho gọi Cao Bá Quát vào trị tội. Ông khảng khái trả lời “Tâu bệ hạ, thần nghe nói đạo vua tôi phải ở trên đạo cha con. Từ nghìn xưa vẫn cứ là vua trước, tôi sau, cha trước mà con sau. Bệ hạ để như vậy chẳng phải là đảo lộn hết rồi sao?”. Trước những lời đối đáp có lý của Cao Bá Quát, vua Tự Đức buộc lòng phải nhờ ông chỉnh sửa lại những lỗi trong vế đối của mình. Thời gian làm quan ở bộ Lễ, Cao Bá Quát nhiều lần tự ý chỉnh sửa nội dung một số bài thơ phú của vua Tự Đức. Chính vì thế, ông bị vua ghét, về sau bị hạ chức, phải chuyển đi làm Giáo Thụ ở Hà Tây. Sau khi từ quan về quê ở ẩn, tận mắt chứng kiến sự thối nát của xã hội đương thời, đời sống nhân dân thống khổ, Cao Bá Quát đã tham gia khởi nghĩa chống lại triều đình. Cuộc khởi nghĩa thất bại, ông chết trên chiến trận. Cuộc đời và tài năng của Cao Bá Quát Cao Bá Quát cùng với Nguyễn Văn Siêu tạo thành đôi tri kỷ văn chương được người đời ca ngợi là "thần Siêu thánh Quát". Dưới thời vua Thiệu Trị, năm 1841, Cao Bá Quát được cử làm Sơ khảo trường thi Thừa Thiên. Trong khi chấm bài, thấy 24 bài văn hay nhưng phạm húy, không muốn vì lỗi nhỏ mà đánh trượt người có tài, Cao Bá Quát cùng Phan Thời Nhạ ngầm lấy muội đèn làm mực chữa bài. Việc bại lộ, ông và Phan Thời Nhạ bị tuyên án tử hình. Về sau, cảm phục tài đức của ông, vua Thiệu Trị tha tội chết cho Cao Bá Quát, chuyển sang tống giam. Sau đó 3 năm, ông được cho đi sứ ở Indonesia để lập công chuộc tội. Video Thăng Long Nhân Kiệt VTV Cao Bá Quát luyện viết chữ đẹp Chữ viết cải tiến chữ viết luyện chữ đẹp Cao Bá Quát Bạn có thể quan tâm 1. Một lần, vua Minh Mạng từ kinh đô Huế ngự giá ra Thăng Long Hà Nội. Vua cho xa giá đến Hồ Tây ngắm cảnh. Xa giá đi đến đâu quân lính cũng thét đuổi tất cả mọi người, không cho ai đến gần. 2. Cao Bá Quát, khi ấy còn là một cậu bé, muốn nhìn rõ mặt vua. Cậu nảy ra một ý, liền cởi hết quần áo, nhảy xuống hồ tắm. Quân lính nhìn thấy, xúm vào bắt trói đứa trẻ táo tợn. Cậu bé không chịu, la hét, vùng vẫy, gây nên cảnh náo động ở hồ. Thấy thế, vua Minh Mạng truyền lệnh dẫn cậu tới hỏi. 3. Câu bé bị dẫn tới trước mặt nhà vua. Cậu từ xưng là học trò mới ở quê ra chơi. Thấy nói là học trò, vua ra lệnh cho cậu phải đối được một vế đối thì mới tha. Nhìn thấy trên mặt nước lúc đó có đàn cá đang đuổi nhau, vua tức cảnh đọc vế đối như sau Nước trong leo lẻo cá đớp cá Chẳng cần nghĩ ngợi lâu la gì, Cao Bá Quát lấy cảnh mình đang bị trói, đối lại luôn Trời nắng chang chang người trói người 4. Vế đối vừa cứng cỏi, vừa rất chỉnh, biểu lộ sự nhanh trí, thông minh. Vua nguôi giận, truyền lệnh cởi trói, tha cho cậu bé. Phạm Hải Đăng Xin câu trả lời hay nhất

câu chuyện về cao bá quát