Nguyễn Du: Một đời thơ huy hoàng ghi tạc vào lòng thế kỷ văn chương. Diệu Uyển , 2 năm ago 12 min 205. Nguyễn Du là một tài năng thế kỷ của văn chương, ông đã tự kiến tạo nên thế giới nghệ thuật riêng trong các tác phẩm của mình, bằng sự tài hoa và tấm lòng nhân đạo
2. Câu thơ hay về "Truyện Kiều" - “Chạnh thương cô Kiều như đời dân tộc Sắc tài sao mà lại lắm truân chuyên…” (Chế Lan Viên) - “Tiếng thơ ai động đất trời Nghe như non nước vọng lời ngàn thu Ngàn năm sau nhớ Nguyễn Du Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày
Phân tích 14 câu đầu trao duyên Phân Tích 14 Câu Đầu Bài Trao Duyên ️️ 10 Mẫu Hay Nhất Đón Đọc Tại SCR.VN Tuyển Tập Những Bài Văn Đặc Sắc Phân Tích Chuyên
Nguyễn Khuyến. Câu cá mùa thu. Bài thơ thể hiện sự cảm nhận và nghệ thuật gợi tả tinh tế về cảnh sắc mùa thu đồng bằng Bắc Bộ, đồng thời cho thấy tình yêu thiên nhiên, đất nước, tâm trạng thời thế và tài thơ Nôm của tác giả. 4. Tú Xương. Thương vợ
Nguyễn Công Trứ (1788 – 1858) là một nhà thơ kì dị cuối thế kỷ 19 tại Việt Nam. Không có những ngôn từ mĩ miều và thanh thoát, thơ Nguyễn Công Trứ thể hiện trực tiếp các tư tưởng và thái độ với cuộc đời, với thời cuộc.
. Thơ Nguyễn Du ❤ ️ Tuyển Tập Trọn Bộ Những Bài Hay Nhất ✅ Các Câu Thơ Thể Hiện Sâu Sắc Và Đầy Ấn Tượng Của Đại Thi Hào Nước Ta . Dưới đây là tuyển tập một số ít bài thơ của đại thi hào Nguyễn Du trong tập thơ Bắc hành Tạp lục . Thuyền ra đi trên sông Minh Chiêng trống thùng thùng ra cửa sôngMột thuyền lướt sóng giữa muôn trùngMây tan bất chợt hao gầy núiNước lụt mới về vẩn đục dòngDặm biệt, anh em đà tưởng nhớá chồng, con cháu cứ ngờ trôngHoa Sơn chớ vượt khi chiều xếSợ vẳng bên tai vượn não nùng Mừng xuống khỏi thác Thành khẩn dâng hương vái trước đềnMột thuyền theo nước cứ lênh đênhMừng người rắn cọp không làm dữThích cảnh non sông như đã quenMuôn cụm tùng xanh sư trú ngụMột Hòn Én lạnh khói dâng lênBên song lặng lẽ không gì bậnNghe khúc chài ca, ngó nắng nghiêng êm đậu thuyền ở cửa sông Tam Giang Một dòng nước xẻ núi muôn trùngHai dãy nhìn nhau đá chất chồngVượn hú ngọn cây dường lạc lốiChó kêu rừng thẳm chắc gần thônNúi mây bốn ngả tình cô quạnhHồ Việt chung thuyền mối thiết thânLàng cũ mười năm quên mất hướngQuê nhà nẻo mộng nhớ về thăm 👉 Ngoài Tuyển Tập Thơ Nguyễn Du Chia sẻ đến bạn Thơ Thúy Kiều ❤ ️ Trọn Bộ 3254 Câu Thơ Truyện Kiều Thơ Cảnh Ngày Xuân Mời bạn cùng ngâm qua 1 trích đoạn Cảnh ngày xuân của nhà thơ Nguyễn Du . Ngày xuân con én đưa thoiThiều quang chin chục đã ngoài sáu mươiCỏ non xanh rợn chân trờiCành lê trắng điểm một vài bông hoaThanh minh trong tiết tháng baLễ là tảo mộ, hội là đạp thanhGần xa nô nức yến oanhChị em sắm sửa bộ hành chơi xuânDập dìu tài tử giai nhânNgựa xe như nước áo quần như nêmNgổn ngang gò đống kéo lênThoi vàng vó rắc tro tiền giấy bayTà à bóng ngả về tâyChị em thơ thẩn dan tay ra vềBước dần theo ngọn phong khêLần xem phong cảnh có bề thanh thanhNao nao dòng nước uốn quanh,Nhịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắt ngang 👉 Bên cạnh Thơ Cảnh Ngày Xuân Tặng bạn trọn bộ Bài Thơ Hóa Trị ❤ ️ ️ Bài Thơ Tên Nguyên Tố Hóa Học Lớp 8 Bài Thơ Thúy Kiều Đoạn thơ dưới đây là phần đầu của tập truyện Kiều Nguyễn Du được nhiều người nhắc đến nhất. Mời bạn Cùng tìm hiểu thêm . Trăm năm trong cõi người ta,Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét qua một cuộc bể dâu,Những điều trông thấy mà đau đớn gì bỉ sắc tư phong,Trời xanh quen thói má hồng đánh thơm lần giở trước đèn,Phong tình cổ lục còn truyền sử Năm Gia-tĩnh triều Minh,Bốn phương phẳng lặng hai kinh chữ nhà viên ngoại họ Vương,Gia tư nghỉ cũng thường thường bậc trai con thứ rốt lòng,Vương Quan là chữ nối dòng nho lòng hai ả tố nga,Thúy Kiều là chị em là Thúy cốt cách tuyết tinh thần,Mỗi người một vẻ mười phân vẹn xem trang trọng khác vời,Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở cười ngọc thốt đoan trang,Mây thua nước tóc tuyết nhường màu càng sắc sảo mặn mà,So bề tài sắc lại là phần thu thủy nét xuân sơn,Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém hai nghiêng nước nghiêng thành,Sắc đành đòi một tài đành họa minh vốn sẵn tính trời,Pha nghề thi họa đủ mùi ca thương làu bậc ngũ âm,Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một nhà tay lựa nên xoang,Một thiên Bạc mệnh lại càng não lưu rất mực hồng quần,Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê.£m đềm trướng rủ màn che,Tường đông ong bướm đi về mặc ai.… 👉 Ngoài Bài Thơ Thúy Kiều của Nguyễn Du bật mý đến bạn Ghen Nguyễn Bính ❤ ️ Tuyển Tập Thơ, Bài Hát, Phân Tích Những Câu Thơ Hay Trong Truyện Kiều Dưới đây là tinh lọc top 50 câu thơ hay nhất trong tập truyện Kiều của Nguyễn Du . Cỏ non xanh tận chân trờiCành lê trắng điểm một vài bông hoa. Sống làm vợ khắp người taHại thay thác xuống làm ma không chồng. Người đâu gặp gỡ làm chiTrăm năm biết có duyên gì hay không? Ngổn ngang trăm mối bên lòngNên câu tuyệt diệu ngụ trong tính tình. Một mình lưỡng lự canh chầyĐường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh. Sầu đong càng khắc càng đầyBa thu dồn lại một ngày dài ghê. Mành tương phất phất giò đànHương gây mùi nhớ trà khan giọng tình. Gió chiều như giục cơn sầuVi lô hiu hắt như mầu khơi trêu. Rằng trăm năm, kể từ đâyCủa tin gọi một chút này làm ghi. Bây giờ rõ mặt đôi taBiết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao. Gìn vàng giữ ngọc cho hayCho đành lòng kẻ chân mây cuối trời. Trăng thề còn đó trơ trơDám xa xôi mặt mà thơ thớt lòng. Ông tơ ghét bỏ chi nhauChưa vui sum họp đã sầu chia phôi. Đau lòng tử biệt sinh lyThân còn chẳng tiếc, tiếc gì đến duyên. Phận sao đành vậy cũng vầyCầm như chẳng đỗ những ngày còn xanh. Trong tay đã sẵn đồng tiềnDù lòng đổi trắng thay đen khó gì. Đau lòng kẻ ở người điLệ rơi thấm đá, tơ chia rũ tằm. Biết thân đến bước lạc loàiNhị đào thà bẻ cho người tình chung. Miếng ngon kề đến tận nơiVốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham. Đoạn trường thay lúc phân kỳVó câu khấp khểnh, bánh xe gập ghềnh. Thôi con còn nói chi conSống nhờ đất khách, thác chôn quê người . Từ đây góc bể bên trờiNắng mưa thui thủi quê người một thân. Vi lô san sát hơi mayMột trời thu để riêng ai một người. Dặm khuya ngất tạnh, mù khơiThấy trăng mà thẹn những lời non sông. Thoắt trông nhờn nhợt màu daĂn gì to lớn đẫy đà làm sao. Thương ôi tài sắc bậc nàyMột dao oan nghiệt đứt dây phong trần. Cũng liều nhắm mắt đưa chânMà xem con tạo xoay vần đến đâu. Đêm thu khắc lậu, canh tànGió cây trút lá, trăng ngàn ngậm gương. Thân lươn bao quản lấm đầuChút lòng trinh bạch từ sau xin chừa. Vui là vui gượng kẻo làAi tri âm đó mặn mà với ai. Đã đày vào kiếp phong trầnSao cho sỉ nhục một lần mới thôi. Rõ màu trong ngọc trắng ngàDày dày sẵn đúc một toà thiên nhiên. Thương sao cho trọn thì thươngTính sao cho vẹn mọi đường thì vâng. Vầng trăng ai xẻ làm đôiNửa in gối chiếc nửa soi dặm trường. Long lanh đáy nước in trờiThành xây khói biếc non phơi bóng vàng. Bước vào phòng cũ lầu thơTro than một đống, nắng mưa bốn tường. Bốn phương mây trắng một màuTrông vời cố quốc biết đâu là nhà. Bề ngoài thơn thớt nói cườiMà trong nham hiểm giết người không dao. Nhẹ như bấc, nặng như chìGỡ cho ra nợ còn gì là duyên. Phận bèo bao quản nước saLênh đênh đâu nữa cũng là lênh đênh. Biết thân tránh chẳng khỏi trờiCũng liều mặt phấn cho rồi ngày xanh. Đến bây giờ mới thấy đâyMà lòng đã chắc những ngày một hai. Tiếc thay chút nghĩa cũ càngDẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng. Đàn bà dễ có mấy tayĐời xưa mấy mặt, đời này mấy gan. Phong trần mài một lưỡi gươmNhững phường giá áo túi cơn sá gì. Chọc trời khuấy nước mặc dầuDọc ngang nào biết trên đầu có ai. Một cung gió thảm mưa sầuBốn dây rỏ máu năm đầu ngón tay. Đánh tranh chụm nóc thảo đườngMột gian nước biếc mây vàng chia hai. Thẫn thờ lúc tỉnh lúc mêMáu theo nước mắt, hồn lìa chiêm bao. Tưởng bây giờ là bao giờRõ ràng mở mắt còn ngờ chiêm bao. 👉 Bên cạnh Những Câu Thơ Hay Trong Truyện Kiều của Nguyễn Du bật mý đến bạn Thơ Huy Cận ❤ ️ ️ Tuyển Tập Những Bài Thơ Hay Nhất Thơ Chữ Hán Của Nguyễn Du Gửi đến bạn tìm hiểu thêm 1 số ít bài thơ bằng chữ Hán của Đại thi hào Nguyễn Du dưới đây . Thăng Long đệ nhất thủ Tản Lĩnh Lô Giang tuế tuế đồngBạch đầu do đắc kiến Thăng LongThiên niên cự thất thành quan đạoNhất phiến tân thành một cố cungTương thức mỹ nhân khan bão tửồng du hiệp thiếu tẫn thành ôngQuan tâm nhất dạ khổ vô thụyoản địch thanh thanh minh nguyệt trung Mạc phủ tức sự Triệt dạ la thanh bất tạm đìnhCô đăng tương đối đáo thiên minhKinh tuần khứ quốc tâm như tửNhất lộ phùng nhân diện tẫn sinhSơn lộc tích nê thâm một mãKhê tuyền phục quái lão thành tinhKhách tình chí thử dĩ vô hạnHựu thị Yên sơn vạn lý hành Hoàng Sào binh mã Đại tiểu Hoa Sơn sổ lý phânHoàng Sào di tích tại giang tânKhởi tri Kim Thống Tấn trung đếNãi xuất Tôn sơn bảng ngoại nhânNgộ quốc mỗ nhân câu hạng lượngCùng thời tự khả biến phong vânViễn lai nghĩ vấn thiên niên sựGiang hộ dao đầu nhược bất văn 👉 Ngoài Thơ Chữ Hán Của Nguyễn Du bật mý đến bạn Thơ Công Thức Toán Tiểu Học Hay ❤ ️ ️ Dễ Nhớ Nhất Thơ Truyện Kiều Lớp 9 Trong phần ngữ văn lớp 9 các bạn học sinh sẽ được học trích đoạn Mã Giám Sinh mua Kiều đầy ấn tượng. Cùng ngâm qua đoạn thơ đặc sắc của nhà thơ Nguyễn Du ngay nhé! Mã Giám Sinh mua Kiều Gần miền có một mụ nào,Đưa người viễn khách tìm vào vấn tên, rằng “Mã Giám Sinh”,Hỏi quê, rằng “Huyện Lâm Thanh cũng gần”.Quá niên trạc ngoại tứ tuần,Mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh thầy sau tớ lao xao,Nhà băng đưa mối rước vào lầu trên ngồi tót sỗ sàng,Buồng trong mối đã giục nàng kíp ra…Nỗi mình nên tức nỗi nhà,Thềm hoa một bước lệ hoa mấy hàng!Ngại ngùng dợn gió e sương,Ngừng hoa bóng thẹn trông gương mặt càng vén tóc bắt tay,Nét buồn như cúc điệu gầy như đo cân sức cân tài,Ép cung cầm nguyệt thử bài quạt nồng một vẻ một ưa,Bằng lòng khách mới tùy cơ dặt “Mua ngọc đến Lam Kiều,Sính nghi xin dạy bao nhiêu cho tường?”Mối rằng “Giá đáng nghìn vàng,Dớp nhà nhờ lượng người thương dám nài!”Cò kè bớt một thêm hai,Giờ lâu ngã giá vâng ngoài bốn trăm. 👉 Ngoài Thơ Truyện Kiều Lớp 9 khuyến mãi bạn top Thơ Nguyễn Bính Hay ❤ ️ Tuyển Tập Chùm Thơ Nổi Tiếng Nhất Những Câu Thơ Nói Về Truyện Kiều Truyện Kiều là một tác phẩm nổi tiếng của Đại thi hào Nguyễn Du, chính vì thế mà đã có rất nhiều nhà thơ nói về tuyệt tác này . Vịnh KiềuTản Đà Tiếng trống biên đình bốn phía ranTướng quân chi tiếc cái hoa tànĐôi hàng nước mắt, đôi làn sóngNửa đám ma chồng, nửa tiệc quanTổng đốc ví thương người bạc phậnTiền Đường đâu đã mả hồng nhanBơ vơ nấm đất ven sông đóHồn có nghe chăng một tiếng đàn. Bài thơ đầu Truyện KiềuChu Mạnh Trinh Trời sá ghen đâu khách má hồngĐoạn trường nợ lắm phải đền xong,Hiếu tình chất nặng đôi vai gánh,Thân thế xoay quanh một giấc mòng,Giọt nước sông Tiền oan dễ trắngNgắm trăng hiên Thúy vẻ còn thiên chép để làm gương lạiTrời sá ghen đâu khách má hồng. Kiều bán mìnhNguyễn Khuyến Thằng bán tơ kia dở dói raLàm cho bận đến cụ Viên giàMuốn êm phải biện ba trăm lạngKhéo xếp nên liều một chiếc thoaĐón khách mượn màu son phấn mụBán mình chuộc lấy tội tình chaCó tiền việc ấy mà xong nhỉNgày trước làm quan cũng thế a? 👉 Bên cạnh Những Câu Thơ Nói Về Truyện Kiều của Nguyễn Du san sẻ đến bạn thơ Xuân Diệu Huy Cận ❤ ️ ️ Tuyển Tập Thơ Và Những Bí Ẩn Thơ Tình Nguyễn Du Tặng bạn tìm hiểu thêm một số ít bài thơ tình nhẹ nhàng của nhà thơ Nguyễn Du đa tài . Độc Tiểu Thanh ký Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư,Độc điếu song tiền nhất chỉ phấn hữu thần liên tử hậu,Văn chương vô mệnh luỵ phần kim hận sự thiên nan vấn,Phong vận kỳ oan ngã tự tri tam bách dư niên hậu,Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như? Long thành cầm giả ca Long thành giai nhân,Bất ký danh thiện huyền cầm,Cử thành chi nhân dĩ cầm đắc tiên triều cung trung “Cung phụng” khúc,Tự thị thiên thượng nhân gian đệ nhất tại thiếu niên tằng nhất kiến,Giám Hồ hồ biên dạ khai thời tam thất chánh phương niên,Xuân phong yểm ánh đào hoa nhan hám thái tối nghi nhân,Lịch loạn ngũ thanh tuỳ thủ như luơng phong độ tùng lâm,Thanh như chích hạc minh tại như Tiến Phúc bi đầu toái phích lịch,Ai như Trang Tích bịnh trung vi Việt giả mỹ mỹ bất tri quyện,Tận thị Trung Hoà ại Nội Sơn chư thần mãn toạ tận khuynh đảo,Triệt dạ truy hoan bất tri phao hữu trịch tranh triền đầu,Nê thổ kim tiền thù thảo hoa ý khí lăng công hầu,Ngũ Lăng niên thiếu bất túc tương tam thập lục cung xuân,Hoán thủ Trường An vô giá tịch hồi đầu nhị thập niên,Tây Sơn bại hậu dư Nam xích Long Thành bất phục kiến,Hà huống thành trung ca vũ phủ sứ quân vị dư trùng mãi tiếu,Tịch trung ca kỹ giai niên mạt nhất nhân phát bán hoa,Nhan xú thần khô hình lược tạ tàn my bất sức trang,Thuỳ tri tiện thị đương niên thành trung đệ nhất khúc tân thanh ám lệ thuỳ,Nhĩ trung tĩnh thính tâm trung nhiên ức khởi nhị thập niên tiền sự,Giám Hồ hồ biên tằng kiến quách suy di nhân sự cải,Kỷ độ tang điền biến thương Sơn cơ nghiệp nhất đán tận tiêu vong,Ca vũ không lưu nhất nhân tức bách niên tằng kỷ thì,Thương tâm vãng sự lệ triêm Hà quy lai đầu tận bạch,Quái để giai nhân nhan sắc nhãn trừng trừng không tưởng tượng,Khả liên đối diện bất tương tri. 👉 Bên cạnh Thơ Tình Nguyễn Du Tặng bạn trọn bộ Nắng Mới Lưu Trọng Lư ❤ ️ ️ Phân Tích Nội Dung Bài Thơ Bài Thơ Trao Duyên Của Nguyễn Du Gửi đến bạn một trích đoạn Trao duyên trong truyện Kiều của nhà thơ Nguyễn Du dưới đây . Trích đoạn Trao duyên Cậy em, em có chịu lời,Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ đường đứt gánh tương tư,Keo loan chắp mối tơ thừa mặc emKể từ khi gặp chàng KimKhi ngày quạt ước, khi đêm chén thềSự đâu sóng gió bất kìHiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn haiNgày xuân em hãy còn dàiXót tình máu mủ thay lời nước nonChị dù thịt nát xương mònNgậm cười chín suối hãy còn thơm lâyChiếc thoa với bức tờ mâyDuyên này thì giữ, vật này của chungMai sau dù có bao giờ,Đốt lò hương ấy, so tơ phím ra ngọn cỏ lá cây,Thấy hiu hiu gió thì hay chị còn mang nặng lời thề,Nát thân bồ liễu, đền nghì trúc maiTrăm nghìn gửi lạy tình quân,Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôiPhận sao phận bạc như vôi!Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làngÔi Kim lang! Hỡi Kim lang!Thôi thôi! Thiếp đã phụ chàng từ đây 👉 Ngoài Bài Thơ Trao Duyên Của Nguyễn Du khuyến mãi ngay bạn Thơ Tình Nguyễn Bính Hay Nhất ❤ ️ Những Bài Thơ Nổi Tiếng Thơ Nguyễn Du Lớp 10 Cùng đọc qua trích đoạn thơ Chí Khí Anh Hùng của Nguyễn Du được học trong chương trình ngữ văn lớp 10 . Trích đoạn Chí Khí Anh Hùng Nửa năm hương lửa đương nồngTrượng phu thoắt đã động lòng bốn phươngTrông vời trời bể mênh mangThanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rongNàng rằng Phận gái chữ tòngChàng đi thiếp cũng quyết lòng xin điTừ rằng Tâm phúc tương triSao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình?Bao giờ mười vạn tinh binhTiếng chiêng dậy đất, bóng tinh rợp đườngLàm cho rõ mặt phi thườngBấy giờ ta sẽ rước nàng nghi giaBằng ngay bốn bể không nhàTheo càng thêm bận, biết là đi đâuĐành lòng chờ đó ít lâuChầy chăng là một năm sau vội lời dứt áo ra điGió mây bằng đã đến kì dặm khơi 👉Bên cạnh Thơ Nguyễn Du Lớp 10 tiết lộ đến bạn Thơ Tình Hàn Mạc Tử ❤️️ Chùm Thơ Về Tình Yêu Hay Nhất Trên đây là tuyển tập một số ít bài thơ ấn tượng của Đại thi hào Nguyễn Du vô cùng rực rỡ ! Cảm ơn bạn đã tìm hiểu thêm tại .
Thơ Nguyễn Du Về Tình Yêu ❤️️ Những Câu Thơ Tình Hay Nhất ✅ Tuyển Tập Những Bài Thơ Tình Hay Nhất Của Đại Thi Hào Nguyễn Du. Thơ Nguyễn Du Về Tình Yêu Thơ Tình Nguyễn Du Những Câu Thơ Về Tình Yêu Trong Truyện KiềuNhững Bài Thơ Hay Khác Của Nguyễn DuĐộc Tiểu Thanh KýSơn Cư Mạn HứngĐối TửuHá Than Hỷ PhúTruyện Kiều – Hồi 01 Ngoài các bài thơ với chủ đề đề cao giá trị nhân văn con người, lên án, tố cáo những thế lực đen tối chà đạp con người,… thì Nguyễn Du cũng có viết một số bài liên quan đến tình yêu, tình cảm con người. Dưới đây là một số câu thơ của Nguyễn Du về tình yêu mà sưu tầm được. Tương truyền khi còn trẻ, Nguyễn Du khi ấy thường gọi là cậu Chiêu Bảy. Ông rất thích hát phường vải. Bấy giờ có làng Trường Lưu cũng thuộc huyện Nghi Xuân, là một trong những làng nổi tiếng về hát phường vải, về nghề dệt vải và về con gái đẹp. Làng Tiên iền thì có nghề làm nón; con trai phường nón thường kéo nhau sang hát phường vải ở Trường Lưu. Họ đi hát vì mê hát , nhưng một phần cũng vì mê các cô gái đẹp. Trong các chuyến đi ấy, Chiêu Bảy chẳng bao giờ vắng mặt. Có một đêm hát nọ, Chiêu Bảy tình cờ gặp được một cô gái tên Cúc, người đẹp, giọng hay, tài bẻ chuyện, nhưng chỉ phải một nỗi đã sắp quá thì mà vẫn chưa chồng. Chiêu Bảy biết thóp như vậy, liền bẻ ngay một câu như sau để ghẹo chơi Trăm hoa đua nở mùa xuân,Cớ sao Cúc lại muộn màng về thu? Thoáng nghe qua cô Cúc đã hiểu ngay ý tứ của đối phương, bèn hát đáp lại rằng Vì chưng tham chút nhụy vàng,Cho nên Cúc phải muộn màng về thu. Một hôm, Nguyễn Du đến chậm nên bị lỡ chuyến đò, ông phải chờ đợi sốt ruột, nên làm một bài thơ nhờ bạn đưa cho cô gái, để tỏ lòng mình và cũng để thử lòng cô gái Ai ơi, chèo chống tôi sangKẻo trời trưa trật, lỡ làng tôi raCòn nhiều qua lại lại qua,Giúp cho nhau nữa để mà… Câu thơ cuối, Nguyễn Du cố ý bỏ lửng để chờ cô gái điền vào. Nhận được, cô gái bẽn lẽn và từ chối; nhưng về sau nể lời bạn cô, cô cũng thêm vào hai chữ… quen nhau. Cập nhật thông tin về 🔰Thơ Nguyễn Du 🔰Ngoài Các Câu Thơ Nguyễn Du Về Tình Yêu Thơ Tình Nguyễn Du Nói về thơ tình Nguyễn Du thì phải nói đến giai thoại khi Nguyễn Du và cô gái tên Cúc chính thức yêu nhau. Nhà thơ thổ lộ tâm tình ra bốn câu lục bát tình yêu như sau Quen nhau nay đã nên thươngCùng nhau xe mối tơ vương chữ tìnhCảnh xinh xinh, người xinh xinh,Trên trời, dưới nước, giữa mình với ta. Hai người yêu nhau thắm thiết, quyết chí lấy nhau, nhưng rồi không lấy được nhau. Bởi lẽ đơn giản Nguyễn Du là cậu trai quý tộc mà cô kia thì chỉ là một cô gái bình dân. Hơn 10 năm sau, khi Nguyễn Du có dịp trở lại bến cũ đò xưa thì cô gái đi lấy chồng lâu rồi, chỉ còn cây đa vẫn còn xanh tươi trước gió, dòng nước đỏ vẫn lặng lẽ trôi xuôi. Trông cảnh cũ, nhớ người xưa, Nguyễn Du đã ngậm ngùi ngâm lên bốn câu thơ lục bát về tình yêu để gửi gấm lòng mình Yêu nhau những muốn gần nhauBể sâu trăm trượng, tình sâu gấp mườiVì đâu xa cách đôi nơiBến này còn đó, nào người năm xưa? Tìm hiểu thêm về 🔰Thơ Chữ Nôm Của Nguyễn Du 🔰 Bên Cạnh Chùm Thơ Nguyễn Du Về Tình Yêu Những Câu Thơ Về Tình Yêu Trong Truyện Kiều Nguyễn Du đã tạo nên nhiều câu thơ hay, ý nghĩa về tình yêu trong truyện Kiều. Nếu bạn quan tâm đến những câu thơ đó thì hãy xem ngay phần tổng hợp các câu thơ của Nguyễn Du về tình yêu trong truyện Kiều dưới đây nhé! Người đâu gặp gỡ làm chiTrăm năm biết có duyên gì hay không? Bây giờ rõ mặt đôi taBiết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao. Trăng thề còn đó trơ trơDám xa xôi mặt mà thưa thớt lòng. Ông tơ ghét bỏ chi nhauChưa vui sum họp đã sầu chia phôi. Vì chăng duyên nợ ba sinh,Thì chi đem thói khuynh thành trêu ngươi. Long lanh đáy nước in trời,Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng. Chàng Kim từ lại thư song,Nỗi nàng canh cánh bên lòng biếng đong càng lắc càng đầy,Ba thu dồn lại một ngày dài ghê. Bâng khuâng nhớ cảnh, nhớ người,Nhớ nơi kỳ ngộ vội dời chân đi. Bậc mây rón bước ngọn tường,Phải người hôm nọ rõ ràng chẳng nhe?Sượng sùng giữ ý rụt rè,Kẻ nhìn rõ mặt người e cúi Từ ngẫu nhĩ gặp trông trộm nhớ bấy lâu đã chồn. Sinh rằng Rày gió mai mưa,Ngày xuân đã dễ tình cờ mấy khi!Dù chăng xét tấm tình siThiệt đây mà có ích gì đến ai?Chút chi gắn bó một hai,Cho đành rồi sẽ liệu bài mối manh. uồng văn hơi giá như đồng,Trúc se ngọn thỏ, tơ chùng phím Tương phất phất gió đàn,Hương gây mùi nhớ, trà khan giọng tình. Đã lòng quân tử đa mang,Một lời vàng tạc đá vàng thủy chung. Lượng trên quyết chẳng thương tình,Bạc đen thôi có tiếc mình làm chi. Nước non cách mấy buồng thêu,Những là trộm nhớ thầm yêu chốc mòng. Nhẫn từ quán khách lân la,Tuần trăng thấm thoắt nay đà thèm hai. Cách tường phải buổi êm trời,Dưới đào dường có bóng người thướt tha. Lần theo tường gấm dạo quanh,Trên đào nhác thấy một cành kim tay với lấy về nhàNày trong khuê các đâu mà đến đây? Tan sương đã thấy bóng người,Quanh tường ra ý tìm tòi ngẩn ngơ. Sinh đà có ý đợi chờ,Thoa này bắt được hư không,Biết đâu Hợp Phố mà mong châu về?Tiếng Kiều nghe lọt bên kiaƠn lòng quân tử sá gì của thoa nào của mấy mươi,Mà lòng trọng nghĩa khinh tài xiết bao! Tiếng sen sẽ động giấc hòe,Bóng trăng đã xế hoa lê lại khuâng đỉnh Giáp non Thần,Còn ngờ giấc mộng đêm xuân mơ màng. Khi gió gác khi trăng sân,Tay tiên chuốc rượu câu thần nối hương sớm khi trà trưa,Bàn vây điểm nước, đường tơ hoạ đàn. Rồi ra lạt phấn phai hương,Lòng kia giữ được thường thường mãi chăng?Vả trong thềm quế cung trăng,Chủ trương đành đã chị Hằng ở trong. Thương sao cho vẹn thì thương,Tính sao cho trọn mọi đường thì vâng. Bấy lâu nghe tiếng má đào,Mắt xanh chẳng để ai vào có không?Một đời được mấy anh hùng,Bõ chi cá chậu, chim lồng mà chơi! Thưa rằng Lượng cả bao dong,Tấn Dương được thấy mây rồng có thương cỏ nội hoa hèn,Chút thân bèo bọt dám phiền mai sau!Nghe lời vừa ý gật đầu,Cười rằng Tri kỷ trước sau mấy người! Một lời đã biết tên ta,Muôn chung nghìn tứ cũng là có nhau! Sẵn sàng phượng liễn loan nghi,Hoa quan phấp phới hà y rỡ cờ, nổi trống lên đàng,Trúc tơ nổi trước, kiệu vàng theo sau. Dặm khuya ngất tạnh mù khơi,Thấy trăng mà thẹn những lời non thu từng biếc xen hồng,Nghe chim như nhắc tấm lòng thần hôn. Nhớ lời nguyện ước ba sinh,Xa xôi ai có thấu tình chăng ai? Tóc thề đã chấm ngang vai,Nào lời non nước nào lời sắt son. Tiếc thay chút nghĩa cũ càng,Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng!Duyên em dù nối chỉ hồng,May ra khi đã tay bồng tay lòng cố quốc tha hương,Đường kia nỗi nọ ngổn ngang bời hồng bay bổng tuyệt vời,Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm. Hải đường mơn mởn cành tơ,Ngày xuân càng gió càng mưa càng hoa hoa nguyệt não xuân ai dễ cầm lòng được chăng? Hương càng đượm lửa càng nồng,Càng sôi vẻ ngọc càng lồng màu sen. Biết thân đến bước lạc loài,Nhị đào thà bẻ cho người tình chung. Anh hùng mới biết anh hùng,Rầy xem phỏng đã cam lòng ấy chưa?Nàng rằng Chút phận ngây thơ,Cũng may dây cát được nhờ bóng cây. Đến bây giờ mới thấy đây,Mà lòng đã chắc những ngày một nhau trông mặt cả cười,Dan tay về chốn trướng mai tự tình. Tiệc bày thưởng tướng khao binhOm thòm trống trận, rập rình nhạc hoa bõ lúc phong trần,Chữ tình ngày lại thêm xuân một ngày. Ngoài Thơ Nguyễn Du Về Tình Yêu, Đón Đọc 👉 3254 Câu Thơ Truyện Kiều 👈 Trọn Bộ Những Bài Thơ Hay Khác Của Nguyễn Du Cuối cùng, bạn đọc có thể xem thêm một số bài thơ hay khác của Nguyễn Du sau đây. Độc Tiểu Thanh Ký 讀小青記 西湖花苑盡成墟,獨吊窗前一紙書。脂粉有神憐死後,文章無命累焚餘。古今恨事天難問,風韻奇冤我自居。不知三百餘年後,天下何人泣素如。 Phiên âm Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư,Độc điếu song tiền nhất chỉ phấn hữu thần liên tử hậu,Văn chương vô mệnh luỵ phần kim hận sự thiên nan vấn,Phong vận kỳ oan ngã tự tri tam bách dư niên hậu,Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như? Dịch thơ Hồ Tây cảnh đẹp hoá gò hoang,Thổn thức bên song mảnh giấy phấn có thần chôn vẫn hận,Văn chương không mệnh đốt còn hờn kim cổ trời khôn hỏi,Cái án phong lưu khách tự biết ba trăm năm lẻ nữa,Người đời ai khóc Tố Như chăng? Sơn Cư Mạn Hứng 山居漫興 南去長安千里餘,群峰深處野人居。柴門晝靜山雲閉,藥圃春寒隴竹疏。一片鄉心蟾影下,經年別淚雁聲初。故鄉弟妹音耗絕,不見平安一紙書。 Phiên âm Nam khứ Trường An thiên lý dư,Quần phong thâm xứ dã nhân môn trú tĩnh sơn vân bế,Dược phố xuân hàn lũng trúc phiến hương tâm thiềm ảnh hạ,Kinh niên biệt lệ nhạn thanh hương đệ muội âm hao tuyệt,Bất kiến bình an nhất chỉ thư. Dịch thơ Kinh đô khuất nẻo dặm ngàn xa,Giữa chốn non xanh một túp lặng cửa sài mây phủ kín,Trời xuân vườn thuốc trúc lơ quê lai láng gương thiềm rọi,Lệ cũ đầm đìa tiếng nhạn thưaXa cách các em tin tức bặtBình yên mấy chữ thấy đâu mà. Đối Tửu 對酒 趺坐閒窗醉眼開,落花無數下蒼苔。生前不盡樽中酒,死後誰澆墓上杯。春色漸遷黃鳥去,年光暗逐白頭來。百期但得終朝醉,世事浮雲真可哀。 Phiên âm Phu toạ nhàn song tuý nhãn khai,Lạc hoa vô số há thương tiền bất tận tôn trung tửu,Tử hậu thuỳ kiêu mộ thượng bôi?Xuân sắc tiệm thiên hoàng điểu khứ,Niên quang ám trục bạch đầu kỳ đãn đắc chung triêu tuý,Thế sự phù vân chân khả ai. Dịch thơ Ngồi bên cửa sổ mắt đờ say,Trên thảm rêu xanh hoa rụng đã không vơi bầu rượu được,Chết rồi ai rưới mộ mình đây?Sắc xuân dần đổi, chim vàng lánh,Năm tháng ngầm xui tóc bạc được trăm năm say khướt mãi,Việc đời mấy nỗi, nghĩ buồn thay! Há Than Hỷ Phú 下灘喜賦 心香拜禱將軍祠,一掉中流肆所之。到處江山如識趣,喜人蛇虎不施威。萬株松樹僧人屋,一帶寒煙燕子磯。寂寂船窗無箇事,漁歌江上看斜暉。 Phiên âm Tâm hương bái đảo tướng quân tỳ từ,Nhất trạo trung lưu tứ sở xứ giang sơn như thức thú,Hỷ nhân xà hổ bất thi châu tùng thụ tăng nhân ốc,Nhất đới hàn yên Yến Tử ky cơ.Tịch tịch thuyền song vô cá sự,Ngư ca giang thượng khán tà huy. Dịch thơ Thành khẩn dâng hương vái trước đềnMột thuyền theo nước cứ lênh đênhMừng người rắn cọp không làm dữThích cảnh non sông như đã quenMuôn cụm tùng xanh sư trú ngụMột Hòn Én lạnh khói dâng lênBên song lặng lẽ không gì bậnNghe khúc chài ca, ngó nắng nghiêng. Truyện Kiều – Hồi 01 Trăm năm trong cõi người ta,Chữ tài, chữ mệnh khéo là ghét qua một cuộc bể điều trông thấy mà đau đớn lòng. Lạ gì bỉ sắc tư phong,Trời xanh quen thói má hồng đánh thơm lần giở trước đèn,Phong tình có lục còn truyền sử năm Gia Tĩnh triều Minh, Bốn phương phẳng lặng, hai kinh vững nhà viên ngoại họ Vương,Gia tư nghĩ cũng thường thường bậc trung,Một trai con thứ rốt lòng,Vương Quan là chữ, nối dòng nho gia. Đầu lòng hai ả tố nga,Thuý Kiều là chị, em là Thuý cốt cách, tuyết tinh người một vẻ, mười phân vẹn xem trang trọng khác vời, Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở cười, ngọc thốt, đoan trang,Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu càng sắc sảo mặn mà,So bề tài sắc vẫn là phần hơn. Làn thu thuỷ, nét xuân sơn,Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém hai nghiêng nước nghiêng thành,Sắc đành đòi một, tài đành hoạ minh vốn sẵn tính trời, Pha nghề thi hoạ đủ mùi ca thương làu bậc ngũ âm,Nghề riêng ăn đứt Hồ cầm một nhà tay lựa nên chương,Một thiên “Bạc mệnh” lại càng não nhân. Phong lưu rất mực hồng quần,Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kêÊm đềm trướng rủ màn che,Tường đông ong bướm đi về mặc ai. Bạn có thể tìm hiểu thêm🔰 Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh [Nguyễn Du] 🔰 Nội Dung, Ý Nghĩa
Nguyễn Du đóng góp lớn cho sự phát triển giàu đẹp của ngôn ngữ văn học tiếng Việt, câu thơ tiếng Việt trang nhã, diễm lệ nhờ vần luật chỉnh tề, ngắt nhịp đa dạng, vận dụng các phép tu từ đạt hiệu quả nghệ thuật cao qua những tác phẩm tiêu biểu của ông. Sau đây là tuyển chọn những câu thơ hay của Nguyễn Du với những vần thơ giản dị mà cô đọng, súc tích ẩn chứa những giá trị nhân văn còn sống mãi theo thời gian. Mời bạn cùng đón đọc! Tham khảo thêm Tuyển tập 30+ những bài thơ hay của Bác Hồ hay nhất mọi thời đại Tuyển chọn 15+ bài thơ hay của Tố Hữu sống mãi cùng thời gian Những câu thơ hay của Nguyễn Trãi khiến ta suy ngẫm Những bài thơ hay của Nguyễn Du Tuyển chọn thơ hay Nguyễn Du để bạn tìm đọc và tham khảo đều có đầy đủ tại đây, đọc xong những bài thơ Nguyễn Du hay này sẽ giúp bạn chiêm nghiệm và suy ngẫm nhiều điều về những triết lí nhân sinh, về cuộc đời, con người đã được thi nhân đúc kết từ ngàn đời nay. Độc Tiểu Thanh ký Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư Độc điếu song tiền nhất chỉ thư Chi phấn hữu thần liên tử hậu, Văn chương vô mệnh luỵ phần dư. Cổ kim hận sự thiên nan vấn, Phong vận kỳ oan ngã tự cư. Bất tri tam bách dư niên hậu, Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như? Dịch nghĩa Vườn hoa cạnh Tây Hồ đã thành bãi hoang, Ta chỉ viếng nàng qua bài ký đọc trước cửa sổ mà thôi. Son phấn có linh hồn chắc phải xót chuyện xảy ra sau khi chết, Văn chương không có mệnh mà cũng bị liên luỵ, đốt đi còn sót lại một vài bài. Mối hận cổ kim, thật khó mà hỏi ông trời. Ta tự coi như người cùng một hội, một thuyền với nàng là kẻ vì nết phong nhã mà mắc phải nỗi oan lạ lùng. Chẳng biết ba trăm năm sau nữa, Thiên hạ có ai khóc Tố Như ta? Long thành cầm giả ca Long thành giai nhân, Bất ký danh tự. ộc thiện huyền cầm, Cử thành chi nhân dĩ cầm danh. Học đắc tiên triều cung trung “Cung phụng” khúc, Tự thị thiên thượng nhân gian đệ nhất thanh. Dư tại thiếu niên tằng nhất kiến, Giám Hồ hồ biên dạ khai yến. Thử thời tam thất chánh phương niên, Xuân phong yểm ánh đào hoa diện. à nhan hám thái tối nghi nhân, Lịch loạn ngũ thanh tuỳ thủ biến. Hoãn như luơng phong độ tùng lâm, Thanh như chích hạc minh tại âm. Liệt như Tiến Phúc bi đầu toái phích lịch, Ai như Trang Tích bịnh trung vi Việt ngâm. Thính giả mỹ mỹ bất tri quyện, Tận thị Trung Hoà ại Nội âm. Tây Sơn chư thần mãn toạ tận khuynh đảo, Triệt dạ truy hoan bất tri hiểu. Tả phao hữu trịch tranh triền đầu, Nê thổ kim tiền thù thảo thảo. Hào hoa ý khí lăng công hầu, Ngũ Lăng niên thiếu bất túc đạo. Tính tương tam thập lục cung xuân, Hoán thủ Trường An vô giá bảo. Thử tịch hồi đầu nhị thập niên, Tây Sơn bại hậu dư Nam thiên. Chỉ xích Long Thành bất phục kiến, Hà huống thành trung ca vũ diên. Tuyên phủ sứ quân vị dư trùng mãi tiếu, Tịch trung ca kỹ giai niên thiếu. Tịch mạt nhất nhân phát bán hoa, Nhan xú thần khô hình lược tiểu. Lang tạ tàn my bất sức trang, Thuỳ tri tiện thị đương niên thành trung đệ nhất điệu. Cựu khúc tân thanh ám lệ thuỳ, Nhĩ trung tĩnh thính tâm trung bi. Mãnh nhiên ức khởi nhị thập niên tiền sự, Giám Hồ hồ biên tằng kiến chi. Thành quách suy di nhân sự cải, Kỷ độ tang điền biến thương hải. Tây Sơn cơ nghiệp nhất đán tận tiêu vong, Ca vũ không lưu nhất nhân tại. Thuấn tức bách niên tằng kỷ thì, Thương tâm vãng sự lệ triêm y. Nam Hà quy lai đầu tận bạch, Quái để giai nhân nhan sắc suy. Song nhãn trừng trừng không tưởng tượng, Khả liên đối diện bất tương tri. Dịch nghĩa Người đẹp Long Thành Họ tên không được biết Riêng thạo đàn huyền cầm Dân trong thành gọi nàng là cô Cầm Gảy khúc “Cung phụng” từ triều vua xưa Một khúc đàn hay tuyệt từ trời đưa xuống thế gian. Nhớ hồi trẻ tôi đã gặp nàng một lần Bên hồ Giám trong một đêm yến tiệc Tuổi cô cỡ hai mươi mốt Áo hồng ánh lên khuôn mặt đẹp như hoa Rượu đậm thêm nét mặt ngây thơ khả ái Ngón tay lướt năm cung réo rắt Tiếng khoan như gió thổi qua rừng thông Thanh trong như đôi hạc kêu nơi xa xôi Mạnh như sét đánh tan bia Tiến Phúc Sầu bi như Trang Tích lúc đau ốm ngâm rên tiếng Việt Người nghe nàng say sưa không biết mệt Trong khúc nhạc đại nội Trung Hoà. Quan tướng nhà Tây say rượu nghiêng ngả Lo vui chơi suốt đêm không nghỉ Bên phải bên trái tranh nhau cho thưởng Tiền bạc coi thường có nghĩa chi. Vẻ hào hoa hơn bậc vương hầu Giới trẻ nơi Ngũ Lăng không đáng kể Dường như ba mươi sáu cung xuân Nay Tràng An đã hun đúc được một báu vật vô giá. Trong đầu nhớ lại đã hai mươi năm Tây sơn thua bại, tôi vào Nam Long Thành gần mà cũng chẳng được thấy Còn nói chi đến chuyện múa hát trong thành. Nay Tuyên phủ sứ bày cuộc vui đãi tôi Ca kỹ trẻ xinh cả một đám Chỉ có một kẽ tóc hoa râm ngồi cuối phòng Mặt xấu, sắc khô, người hơi nhỏ Mày phờ phạc không điểm phấn tô son Sao mà đoán được người này là đệ nhất danh ca một thời. Điệu nhạc xưa làm ta thầm nhỏ lệ Lắng tai nghe lòng càng đau xót Tự nhiên nhớ lại hai mươi năm trước Bên hồ Giám trong dạ tiệc ta đã thấy nàng Thành quách đã chuyển, người cũng đổi thay Nương dâu trở thành biển cả đã nhiều Cơ nghiệp Tây sơn cũng đà tiêu tán Sót lại đây còn người múa ca. Thấm thoắt trăm năm có là bao Cảm thương chuyện cũ dùng áo thấm nước mắt Ta từ Nam trở lại, đầu bạc trắng Trách làm sao được sắc đẹp cũng suy tàn. Hai mắt trừng lên tưởng nhớ chuyện xưa Thương cho đối mặt mà chẳng nhìn nhận ra nhau. Đối tửu Phu toạ nhàn song tuý nhãn khai, Lạc hoa vô số há thương đài. Sinh tiền bất tận tôn trung tửu, Tử hậu thuỳ kiêu mộ thượng bôi? Xuân sắc tiệm thiên hoàng điểu khứ, Niên quang ám trục bạch đầu lai. Bách kỳ đãn đắc chung triêu tuý, Thế sự phù vân chân khả ai. Dịch nghĩa Ngồi xếp bằng tròn trước cửa sổ, rượu vào hơi say mắt lim dim, Vô số cánh hoa rơi trên thảm rêu xanh. Lúc sống không uống cạn chén rượu, Chết rồi, ai rưới trên mồ cho? Sắc xuân thay đổi dần, chim hoàng oanh bay đi, Năm tháng ngầm thôi thúc đầu bạc. Cuộc đời trăm năm, chỉ mong say suốt ngày. Thế sự như đám mây nổi, thật đáng buồn. Sở kiến hành Hữu phụ huề tam nhi Tương tương toạ đạo bàng Tiểu giả tại hoài trung ại giả trì trúc khuông Khuông trung hà sở thịnh Lê hoắc tạp tì khang Nhật án bất đắc thực Y quần hà khuông nhương Kiến nhân bất ngưỡng thị Lệ lưu khâm lang lang Quần nhi thả hỉ tiếu Bất tri mẫu tâm thương Mẫu tâm thương như hà Tuế cơ lưu dị hương Dị hương sảo phong thục Mễ giá bất thậm ngang Bất tích khí hương thổ Cẩu đồ cứu sinh phương Nhất nhân kiệt dung lực Bất sung tứ khẩu lương Duyên nhai nhật khất thực Thử kế an khả trường Nhãn hạ uỷ câu hác Huyết nhục tự sài lang Mẫu tử bất túc tuất Phủ nhi tăng đoạn trường Kỳ thống tại tâm đầu Thiên nhật giai vị hoàng Âm phong phiêu nhiên chí Hành nhân diệc thê hoàng Tạc tiêu Tây Hà dịch Cung cụ hà trương hoàng Lộc cân tạp ngư xí Mãn trác trần trư dương Trưởng quan bất hạ trợ Tiểu môn chỉ lược thường Bát khí vô cố tích Lân cẩu yếm cao lương Bất tri quan đạo thượng Hữu thử cùng nhi nương Thuỳ nhân tả thử đồ Trì dĩ phụng quân vương Dịch nghĩa Có người đàn bà dắt ba đứa con Cùng nhau ngồi bên đường ứa nhỏ trong bụng mẹ ứa lớn cầm giỏ tre Trong giỏ đựng gì lắm thế? Rau lê, hoắc lẫn cám Qua trưa rồi chưa được ăn Áo quần sao mà rách rưới quá Thấy người không ngẩng nhìn Nước mắt chảy ròng ròng trên áo Lũ con vẫn vui cười Không biết lòng mẹ đau Lòng mẹ đau ra sao? Năm đói lưu lạc đến làng khác Làng khác mùa màng tốt hơn Giá gạo không cao quá Không hối tiếc đã bỏ làng đi Miễn sao tìm được phương tiện sống Một người làm hết sức Không đủ nuôi bốn miệng ăn Dọc đường mỗi ngày đi ăn mày Cách ấy làm sao kéo dài mãi được Thấy trước mắt cái lúc bỏ xác bên ngòi rãnh Máu thịt nuôi lang sói Mẹ chết không thương tiếc Vỗ về con càng thêm đứt ruột Trong lòng đau xót lạ thường Mặt trời vì thế phải vàng uá Gió lạnh bỗng ào tới Người đi đường cũng đau đớn làm sao êm qua ở trạm Tây Hà Tiệc tùng cung phụng khoa trương quá mức Gân hươu cùng vây cá ầy bàn thịt heo, thịt dê Quan lớn không thèm đụng đũa ám theo hầu chỉ nếm qua Vứt bỏ không luyến tiếc Chó hàng xóm cũng ngán món ăn ngon Không biết trên đường cái Có mẹ con đói khổ nhà này Ai người vẽ bức tranh đó em dâng lên nhà vua Thôn dạ Thanh thảo thôn tiền ngoạ lão ông, Giang nam dạ sắc thướng liêm lung. Mãn thiên minh nguyệt nhất trì thuỷ, Bán bích hàn đăng vạn thụ phong. Lão khứ vị tri sinh kế chuyết, Chướng tiêu thời giác túc tâm không. Niên niên kết đắc ngư tiều lữ, Tiếu ngạo hồ yên dã thảo trung. Dịch nghĩa Phía trước thôn Thanh Thảo có một ông già nằm khoèo, Bóng tối trên bờ sông nam đã phủ dần lên bức mành. Vầng trăng sáng đầy trời rọi xuống mặt nước ao, Ngọn đèn lạnh treo trên vách leo lét trước làn gió muôn cây. Già rồi mà vẫn chưa biết mình vụng đường sinh kế, Hết nghhiệp chướng mới thấy tấm lòng xưa nhẹ nhõm. Làm bạn với khách tiều ngư hết năm này sang năm khác, Và cười ngạo nghễ giữa khói mặt hồ và đồng cỏ nội. Khất thực Tằng lăng trường kiếm ỷ thanh thiên, Triển chuyển nê đồ tam thập niên. Văn tự hà tằng vi ngã dụng ? Cơ hàn bất giác thụ nhân liên! Dịch nghĩa Tựa kiếm dài, ngạo nghễ nhìn trời xanh, Lăn lộn trong đám bùn dơ ba mươi năm nay. Văn chương nào đã dùng được việc gì cho ta ? Đâu ngờ phải đói rét để người thương Vọng Phu thạch Thạch da? Nhân da? Bỉ hà nhân? Độc lập sơn đầu thiên bách xuân Vạn kiếp diểu vô vân vũ mộng, Nhất trinh lưu đắc cổ kim thân. Lệ ngân bất tuyệt tam thu vũ, Đài triện trường minh nhất đoạn văn. Tứ vọng liên sơn diểu vô tế, Độc giao nhi nữ thiện di luân. Dịch nghĩa Đá chăng? Người chăng? Là ai đấy nhỉ? Đứng một mình trên ngọn núi hàng ngàn năm nay. Muôn kiếp không bao giờ có mộng mây mưa, Tấm thân giữ được trinh tiết mãi mãi. Mưa thu như dòng lệ chảy không ngớt, Lớp rêu như ghi lại một bài văn ca tụng nàng. Nhìn bốn phía núi non từng từng lớp lớp, Luân thường chỉ dành riêng cho bạn gái chăng? Thác lời trai phường nón Tiếc thay duyên Tấn phận Tần, Chưa quen đã lạ chưa gần đã xa. Chưa chi đông đã rạng ra, Đến giờ vẫn giận con gà chết toi. Tím gan cho cái sao Mai, Thảo nào vác búa chém trời cũng nên. Về qua liếc mắt trông miền, Lời oanh giọng ví chưa yên dằm ngồi. Giữa thềm tàn đuốc còn tươi, Bã trầu chưa quét nào người tình chung. Hồng Sơn cao ngất mấy trùng, Đò Cài mấy trượng thì tình bấy nhiêu. Làm chi cắc cớ lắm điều, Mới đêm hôm trước lại chiều hôm nay. Khi xa xa đến thế này, Tiếng xa nghe hãy rù rì bên tai. Quê nhà nắng sớm mưa mai, Đã buồn giở đến lịp tơi càng buồn. Thờ ơ bó vọt đống sườn, Đã nhàm bẹ móc lại hờn nắm giang. Trăng tà chênh chếch bóng vàng, Dừng chân thoạt nhớ đến đàng cửa truông. Thẩn thơ gối chiếc màn suông, Rối lòng như sợi ai guồng cho xong. Phiên nào chợ Vịnh ra trông, Mồng ba chẳng thấy lại hòng mười ba. Càng trông càng chẳng thấy ra, Cơi trầu quyệt đã vài và lần ôi. Tưởng rằng nói thế mà chơi. Song le đã động lòng người lắm thay. Trông trời trời cách tầng mây, Trông trăng trăng hẹn đến ngày ba mươi. Vô tình trăng cũng như người, Một ta ta lại ngậm cười chuyện ta. Hồi 01 Truyện Kiều năm trong cõi người ta, Chữ tài, chữ mệnh khéo là ghét nhau. Trải qua một cuộc bể dâu. Những điều trông thấy mà đau đớn lòng. 5. Lạ gì bỉ sắc tư phong, Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen. Cảo thơm lần giở trước đèn, Phong tình có lục còn truyền sử xanh. Rằng năm Gia Tĩnh triều Minh, 10. Bốn phương phẳng lặng, hai kinh vững vàng. Có nhà viên ngoại họ Vương, Gia tư nghĩ cũng thường thường bậc trung, Một trai con thứ rốt lòng, Vương Quan là chữ, nối dòng nho gia. 15. Đầu lòng hai ả tố nga, Thuý Kiều là chị, em là Thuý Vân. Mai cốt cách, tuyết tinh thần. Mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười. Vân xem trang trọng khác vời, 20. Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang. Hoa cười, ngọc thốt, đoan trang, Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da. Kiều càng sắc sảo mặn mà, So bề tài sắc vẫn là phần hơn. 25. Làn thu thuỷ, nét xuân sơn, Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh. Một hai nghiêng nước nghiêng thành, Sắc đành đòi một, tài đành hoạ hai. Thông minh vốn sẵn tính trời, 30. Pha nghề thi hoạ đủ mùi ca ngâm. Cung, thương làu bậc ngũ âm, Nghề riêng ăn đứt Hồ cầm một trương. Khúc nhà tay lựa nên chương, Một thiên “Bạc mệnh” lại càng não nhân. 35. Phong lưu rất mực hồng quần, Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê Êm đềm trướng rủ màn che, Tường đông ong bướm đi về mặc ai. Văn tế thập loại chúng sinh 1. Tiết tháng Bảy mưa dầm sùi sụt, Toát hơi may lạnh buốt xương khô, Não người thay buổi chiều thu, Ngàn lau nhuốm bạc, lá ngô rụng vàng. 5. Đường bạch dương bóng chiều man mác, Ngọn đường lê lác đác sương sa, Lòng nào là chẳng thiết tha, Cõi dương còn thế nữa là cõi âm. Trong trường dạ tối tăm trời đất, 10. Có khôn thiêng phảng phất u minh, Thương thay thập loại chúng sinh, Hồn đơn phách chiếc lênh đênh quê người. Hương khói đã không nơi nương tựa, Hồn mồ côi lần lữa đêm đen, 15. Còn chi ai quí ai hèn, Còn chi mà nói ai hiền ai ngu? Tiết đầu thu lập đàn giải thoát Nước tĩnh bình rưới hạt dương chi Muôn nhờ đức Phật từ bi, 20. Giải oan, cứu khổ, hồn về tây phương. Cũng có kẻ tính đường kiêu hãnh, Chí những lăm cướp gánh non sông, Nói chi những buổi tranh hùng Tưởng khi thế khuất vận cùng mà đau. 25. Bỗng phút đâu mưa sa ngói lở Khôn đem mình làm đứa sất phu, Lớn sang giàu nặng oán thù, Máu tươi lai láng, xương khô rã rời. Đoàn vô tự lạc loài nheo nhóc, 30. Quỷ không đầu than khóc đêm mưa Cho hay thành bại là cơ Mà cô hồn biết bao giờ cho tan! Cũng có kẻ màn lan trướng huệ, Những cậy mình cung quế Hằng Nga, 35. Một phen thay đổi sơn hà, Mảnh thân chiếc lá biết là về đâu? Trên lầu cao dưới cầu nước chảy Phận đã đành trâm gãy bình rơi, Khi sao đông đúc vui cười, 40. Mà khi nhắm mắt không người nhặt xương. Đau đớn nhẽ không hương không khói, Luống ngẩn ngơ dòng suối rừng sim. Thương thay chân yếu tay mềm Càng năm càng héo, một đêm một rầu. 45. Kìa những kẻ mũ cao áo rộng, Ngọn bút son thác sống ở tay, Kinh luân găm một túi đầy, Đã đêm Quản Cát lại ngày Y Chu. Thịnh mãn lắm oán thù càng lắm, 50. Trăm loài ma mồ nấm chung quanh, Nghìn vàng khôn đổi được mình Lầu ca, viện hát, tan tành còn đâu? Kẻ thân thích vắng sau vắng trước Biết lấy ai bát nước nén nhang? 55. Cô hồn thất thểu dọc ngang, Nặng oan khôn nhẽ tìm đường hoá sinh. Kìa những kẻ bài binh bố trận Đem mình vào cướp ấn nguyên nhung. Gió mưa sấm sét đùng đùng, 60. Dãi thây trăm họ nên công một người. Khi thất thế tên rơi đạn lạc, Bãi sa trường thịt nát máu rơi, Bơ vơ góc bể chân trời, Nắm xương vô chủ biết vùi nơi nao? 65. Trời thăm thẳm mưa gào gió thét, Khí âm huyền mờ mịt trước sau, Ngàn mây nội cỏ rầu rầu, Nào đâu điếu tế, nào đâu chưng thường? Cũng có kẻ tính đường trí phú, 70. Mình làm mình nhịn ngủ kém ăn, Ruột rà không kẻ chí thân Dẫu làm nên để dành phần cho ai? Khi nằm xuống không người nhắn nhủ, Của phù du dẫu có như không, 75. Sống thời tiền chảy bạc ròng, Thác không đem được một đồng nào đi. Khóc ma mướn, thương gì hàng xóm Hòm gỗ đa bó đóm đưa đêm Ngẩn ngơ trong quảng đồng chiêm, 80. Nén hương giọt nước, biết tìm vào đâu? Cũng có kẻ rắp cầu chữ quý Dấn mình vào thành thị lân la, Mấy thu lìa cửa lìa nhà, Văn chương đã chắc đâu mà trí thân? 85. Dọc hàng quán phải tuần mưa nắng, Vợ con nào nuôi nấng khem kiêng, Vội vàng liệm sấp chôn nghiêng, Anh em thiên hạ láng giềng người dưng. Bóng phần tử xa chừng hương khúc 90. Bãi tha ma kẻ dọc người ngang, Cô hồn nhờ gửi tha phương, Gió trăng hiu hắt, lửa hương lạnh lùng. Cũng có kẻ vào sông ra bể, Cánh buồm mây chạy xế gió đông 95. Gặp cơn giông tố giữa dòng, Đem thân vùi rấp vào lòng kình nghê. Cũng có kẻ đi về buôn bán, Đòn gánh tre chín dạn hai vai, Gặp cơn mưa nắng giữa trời, 100. Hồn đường phách sá lạc loài nơi nao? Cũng có kẻ mắc vào khoá lính, Bỏ cửa nhà đi gánh việc quan, Nước khe cơm ống gian nan, Dãi dầu nghìn dặm lầm than một đời. 105. Buổi chiến trận mạng người như rác, Phận đã đành đạn lạc tên rơi. Lập loè ngọn lửa ma trơi, Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương. Cũng có kẻ nhỡ nhàng một kiếp, 110. Liều tuổi xanh buôn nguyệt bán hoa, Ngẩn ngơ khi trở về già, Đâu chồng con tá biết là cậy ai? Sống đã chịu một đời phiền não Thác lại nhờ hớp cháo lá đa, 115. Đau đớn thay phận đàn bà, Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu? Cũng có kẻ nằm cầu gối đất, Dõi tháng ngày hành khất ngược xuôi, Thương thay cũng một kiếp người, 120. Sống nhờ hàng xứ, chết vùi đường quan! Cũng có kẻ mắc oan tù rạc Gửi mình vào chiếu rách một manh. Nắm xương chôn rấp góc thành, Kiếp nào cởi được oan tình ấy đi? 125. Kìa những đứa tiểu nhi tấm bé, Lỗi giờ sinh lìa mẹ lìa cha. Lấy ai bồng bế vào ra, U ơ tiếng khóc thiết tha nỗi lòng. Kìa những kẻ chìm sông lạc suối, 130. Cũng có người sẩy cối sa cây, Có người leo giếng đứt dây, Người trôi nước lũ kẻ lây lửa thành. Người thì mắc sơn tinh thuỷ quái Người thì sa nanh sói ngà voi, 135. Có người hay đẻ không nuôi, Có người sa sẩy, có người khốn thương. Gặp phải lúc đi đường lỡ bước Cầu Nại Hà kẻ trước người sau Mỗi người một nghiệp khác nhau 140. Hồn xiêu phách tán biết đâu bây giờ? Hoặc là ẩn ngang bờ dọc bụi, Hoặc là nương ngọn suối chân mây, Hoặc là bụi cỏ bóng cây, Hoặc nơi quán nọ cầu này bơ vơ. 145. Hoặc là nương thần từ, Phật tự Hoặc là nơi đầu chợ cuối sông Hoặc là trong quãng đồng không, Hoặc nơi gò đống, hoặc vùng lau tre. Sống đã chịu nhiều bề thảm thiết, 150. Gan héo khô dạ rét căm căm, Dãi dầu trong mấy mươi năm, Thở than dưới đất, ăn nằm trên sương. Nghe gà gáy tìm đường lánh ẩn, Lặn mặt trời lẩn thẩn tìm ra, 155. Lôi thôi bồng trẻ dắt già, Có khôn thiêng nhẽ lại mà nghe kinh. Nhờ phép Phật siêu sinh tịnh độ, Phóng hào quang cứu khổ độ u, Rắp hoà tứ hải quần chu, 160. Não phiền rũ sạch, oán thù rửa không. Nhờ đức Phật thần thông quảng đại, Chuyển pháp luân tam giới thập phương, Nhơn nhơn Tiêu Diện đại vương, Linh kỳ một lá dẫn đường chúng sinh. 165. Nhờ phép Phật uy linh dũng mãnh, Trong giấc mê khua tỉnh chiêm bao, Mười loài là những loài nào? Gái trai già trẻ đều vào nghe kinh. Kiếp phù sinh như hình bào ảnh, 170. Có chữ rằng "Vạn cảnh giai không" Ai ơi lấy Phật làm lòng, Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi. Đàn chẩn tế vâng lời Phật giáo, Của có chi bát cháo nén nhang, 175. Gọi là manh áo thoi vàng, Giúp cho làm của ăn đường thăng thiên. Ai đến đây dưới trên ngồi lại, Của làm duyên chớ ngại bao nhiêu. Phép thiêng biến ít thành nhiều, 180. Trên nhờ Tôn Giả chia đều chúng sình. Phật hữu tình từ bi phổ độ Chớ ngại rằng có có không không. Nam mô Phật, nam mô Pháp, nam mô Tăng Độ cho nhất thiết siêu thăng thượng đàì Tham khảo thêm Những bài thơ hay của Đỗ Phủ sâu lắng, dạt dào cảm xúc 10 bài thơ hay của Hoàng Nhuận Cầm nổi bật và sâu sắc nhất Top 15+ những bài thơ hay của Xuân Diệu đáng đọc nhất Trên đây là tập hợp những câu thơ hay của Nguyễn Du thâm thúy và sâu sắc nhất. Các bạn có thể chia sẻ nội dung hữu ích này cho người thân và bạn bè cùng tham khảo và sử dụng nhé. ►►CLICK NGAY vào nút TẢI VỀ dưới đây để download Những bài thơ hay của Nguyễn Du giá trị và sâu sắc nhất bạn nên đọc file pdf hoàn toàn miễn phí!
Tiểu sử Tác phẩm Văn bản Tác phẩm bằng chữ Hán Tác phẩm bằng chữ Nôm Trước năm 1930 Từ 1930 đến 1945 Từ 1945 đến 1975 Từ 1980 đến nay Thơ văn viết về Nguyễn Du trích Trong mắt người nước ngoài Tưởng niệm Chú thích Tham khảo Nguyễn Du阮攸 Tượng đài Nguyễn Du Sinh 3 tháng 1, 1766Bích Câu, Thăng Long Mất 16 tháng 9, 1820 54 tuổiHuế Bút danh Tố Như, Thanh Hiên, Hồng Sơn lạp hộ, Nam Hải điếu đồ Công việc Nhà thơQuan nhà Lê trung hưngQuan nhà Nguyễn Quốc gia Đại Nam Tác phẩm nổi bật Truyện Kiều Nguyễn Du chữ Hán 阮攸; sinh ngày 3 tháng 1 năm 1766–1820[cần dẫn nguồn] tên tự Tố Như 素如, hiệu Thanh Hiên 清軒, biệt hiệu Hồng Sơn lạp hộ 鴻山獵戶, Nam Hải điếu đồ 南海釣屠, là một nhà thơ, nhà văn hóa lớn thời Lê mạt, Nguyễn sơ ở Việt Nam. Ông được người Việt kính trọng tôn xưng là "Đại thi hào dân tộc".1 Tác phẩm Truyện Kiều của ông được xem là một kiệt tác văn học, một trong những thành tựu tiêu biểu nhất trong nền văn học trung đại Việt Nam. Tiểu sửTheo một bản gia phả của dòng họ Nguyễn ở làng Nghi Xuân, Nguyễn Du sinh ngày 23 tháng 11 năm Ất Dậu tức ngày 3 tháng 1 năm 1766 tại phường Bích Câu, Thăng Long. Cha là Nguyễn Nghiễm 1708 - 1775, sinh ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh, tên tự Hy Tư, hiệu Nghị Hiên, có biệt hiệu là Hồng Ngự cư sĩ đậu Nhị giáp tiến sĩ, làm quan đến chức Đại tư đồ Tể tướng, tước Xuân Quận công. Mẹ là bà Trần Thị Tần 2 24 tháng 8 năm 1740 - 27 tháng 8 năm 1778, con gái một người làm chức câu kế. Bà Tần quê ở làng Hoa Thiều, xã Minh Đạo, huyện Tiên Du Đông Ngàn, xứ Kinh Bắc, nay thuộc tỉnh Bắc Ninh. Bà Tần là vợ thứ ba của Nguyễn Nghiễm kém chồng 32 tuổi sinh được năm con, bốn trai và một gái.3 4 Tổ tiên của Nguyễn Du có nguồn gốc từ làng Canh Hoạch, huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam nay thuộc Hà Nội, sau di cư vào Hà Tĩnh, có truyền thống khoa hoạn nổi danh ở làng Tiên Điền về thời Lê mạt. Trước ông, sáu bảy thế hệ viễn tổ đã từng đỗ đạt làm Đinh Hợi 1767, khi Nguyễn Du mới một tuổi, Nguyễn Nghiễm được thăng Thái tử Thái bảo, hàm tòng nhất phẩm, tước Xuân Quận công nên Nguyễn Du thời đó sống trong giàu sang phú Giáp Ngọ 1774, cha Nguyễn Du sung chức tể tướng, cùng Hoàng Ngũ Phúc đi đánh chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Từ thời gian này Nguyễn Du chịu nhiều mất mát liền kề. Cụ thể, vào năm Ất Mùi 1775, anh trai Nguyễn Trụ sinh năm 1757 qua đời. Năm Bính Thân 1776 thân phụ ông mất. Năm Mậu Tuất 1778 thân mẫu Nguyễn Du là bà Trần Thị Tần cũng tạ thế. Cũng trong năm này, anh thứ hai của Nguyễn Du là Nguyễn Điều sinh năm 1745 được bổ làm Trấn thủ Hưng Hóa. Mới 13 tuổi, Nguyễn Du mồ côi cả cha lẫn mẹ nên ông phải ở với người anh khác mẹ là Nguyễn Khản hơn ông 31 tuổiNăm Canh Tý 1780, Nguyễn Khản là anh cả của Nguyễn Du đang làm Trấn thủ Sơn Tây bị khép tội mưu loạn trong Vụ án năm Canh Tý, bị bãi chức và bị giam ở nhà Châu Quận công. Lúc này Nguyễn Du được một người thân của Nguyễn Nghiễm là Đoàn Nguyễn Tuấn đón về Sơn Nam Hạ nuôi ăn Nhâm Dần 1782, Trịnh Sâm mất, Kiêu binh phế Trịnh Cán, lập Trịnh Tông lên ngôi chúa. Hai anh của Nguyễn Du là Nguyễn Khản được làm Thượng thư bộ Lại, tước Toản Quận công, Nguyễn Điều làm Trấn thủ Sơn Quý Mão 1783 Nguyễn Du thi Hương ở trường Sơn Nam, đậu Tam trường Sinh đồ. Ông lấy vợ là con gái Đoàn Nguyễn Thục và ông được tập ấm chức Chánh thủ hiệu hiệu quân Hùng hậu của cha nuôi họ Hà ở Thái Nguyên. Cũng trong năm này anh cùng mẹ của Nguyễn Du là Nguyễn Đề sinh 1761 đỗ Giải nguyên khoa thi Hương ở điện Phụng Thiên, và Nguyễn Khản đầu năm thăng chức Thiếu Bảo, cuối năm thăng chức Tham Giáp Thìn Tháng 2 năm 1784, kiêu binh nổi dậy đưa hoàng tôn Lê Duy Kỳ lên làm thái tử. Tư dinh của Nguyễn Khản ở phường Bích Câu, Thăng Long bị phá, Nguyễn Khản phải trốn lên ở với em là Nguyễn Điều đang là trấn thủ Sơn Tây. Đến năm 1786 thì Nguyễn Khản bị mắc bệnh rồi chết ở Thăng Kỷ Hợi 1789 Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh. Đoàn Nguyễn Tuấn hợp tác với Tây Sơn, giữ chức Thị lang bộ Lại. Lúc này Nguyễn Du về ở quê vợ Quỳnh Côi, Thái Bình.Tháng mười, năm Tân Hợi 1791, anh thứ tư cùng cha khác mẹ với Nguyễn Du là Nguyễn Quýnh do chống Tây Sơn nên bị bắt và bị giết, dinh cơ họ Nguyễn ở Tiên Điền Hà Tĩnh bị Tây Sơn phá Quý Sửu 1793, Nguyễn Du về thăm quê Tiên Điền và đến cuối năm ông vào kinh đô Phú Xuân thăm anh là Nguyễn Đề đang làm thái sử ở viện cơ mật và anh vợ là Đoàn Nguyễn Giáp Dần 1794, Nguyễn Đề được thăng Tả phụng nghi bộ Binh và vào Quy Nhơn giữ chức Hiệp tán nhung vụ. Đến năm 1795 Nguyễn Đề đi sứ sang Yên Kinh dự lễ nhường ngôi của vua Càn Long nhà Thanh, đến năm 1796 trở về được thăng chức Tả đồng nghị Trung thư đông năm Bính Thìn 1796, Nguyễn Du trốn vào Gia Định theo chúa Nguyễn Ánh nhưng bị Quận công Nguyễn Thận bắt giam ba tháng ở Nghệ An. sau khi được tha ông về sống ở Tiên Điền. Trong thời gian bị giam ông có làm thơ My trung mạn hứng Cảm hứng trong tùMùa thu năm Nhâm Tuất 1802, Vua Gia Long diệt nhà Tây Sơn. Nguyễn Du ra làm quan Tri huyện Phù Dung, phủ Khoái Châu, trấn Sơn Nam nay thuộc tỉnh Hưng Yên. Mấy tháng sau thăng tri phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam Thượng nay thuộc Hà Nội.Năm Quý Hợi 1803, Nguyễn Du được cử lên ải Nam Quan tiếp sứ nhà Thanh sang phong sắc cho vua Gia Ất Sửu 1805 ông được thăng Đông các đại học sĩ hàm Ngũ phẩm, tước Du Đức hầu và vào nhậm chức ở kinh đô Phú Xuân. Năm Đinh Mão 1807 được cử làm giám khảo kỳ thi Hương ở Hải Dương. Mùa thu năm Mậu Thìn 1808, ông xin về quê Kỷ Tỵ 1809 ông được bổ chức Cai bạ hàm Tứ phẩm ở Quảng BìnhNăm Quý Dậu 1813 ông được thăng Cần chánh điện học sĩ hàm Chính tam phẩm và được cử làm chánh sứ sang nhà Thanh. Năm 1814 ông đi sứ về, được thăng Hữu tham tri bộ Lễ hàm Tòng nhị phẩm.Năm Bính Tý 1816, anh rể Nguyễn Du là Vũ Trinh vì liên quan đến vụ án cha con Tổng trấn Nguyễn Văn Thành nên bị đày vào Quảng Canh Thìn 1820 Gia Long qua đời Minh Mạng nối ngôi. Lúc này Nguyễn Du được cử đi làm chánh sứ sang nhà Thanh báo tang và cầu phong nhưng ông bị bệnh dịch chết ngày mồng 10 tháng 8 âm lịch 16 tháng 9 năm Canh Thìn 1820 lúc 54 Giáp Thân 1824, di cốt của ông được cải táng về quê nhà là làng Tiên Điền, Hà Tĩnh5 .Đại Nam thực lục chép về Nguyễn Du Du là người Nghệ An, học rộng giỏi thơ, càng giỏi về Quốc ngữ. Nhưng là người nhút nhát, mỗi khi ra mắt vua thì sợ sệt không hay nói Đại Nam liệt truyện chép Du là người ngạo nghễ tự phụ, mà bề ngoài tõ ra kính cẩn, mỗi khi vào yết kiến, sợ hãi như không nói Người đời sau, như ý kiến của các ông Trịnh Vân Định, Trần Nho Thìn cho đó là một cách khéo léo để giữ toàn mạng và thăng tiến trong thời loạn, mặc dù trong văn thơ của Nguyễn Du thường đề cao những anh hùng thời loạn, nhưng ông chọn cách sống khác, cống hiến nhưng "ẩn dật" trong chốn quan Tác phẩmQua các tác phẩm của Nguyễn Du, nét nổi bật chính là sự đề cao xúc cảm. Nguyễn Du là nhà thơ có học vấn uyên bác, nắm vững nhiều thể thơ của Trung Quốc, như ngũ ngôn cổ thi, ngũ ngôn luật, thất ngôn luật, ca, hành... nên ở thể thơ nào, ông cũng có bài xuất sắc. Đặc biệt hơn cả, là tài làm thơ bằng chữ Nôm của ông, mà đỉnh cao là Truyện Kiều, đã cho thấy, thể thơ lục bát có khả năng chuyển tải nội dung tự sự và trữ tình to lớn trong thể loại truyện trên cơ sở này, mà trong thơ Nguyễn Du luôn luôn vang lên âm thanh, bừng lên màu sắc của sự sống, hằn lên những đường nét sắc cạnh của bức tranh hiện thực đa dạng. Và giữa những âm thanh, màu sắc, đường nét vô cùng phong phú đó, Nguyễn Du hiện ra vừa dạt dào yêu thương, vừa bừng bừng căm giận. Đây là chỗ đặc sắc và cũng là chỗ tích cực nhất trong nghệ thuật của Nguyễn Du. Từ thơ chữ Hán đến Truyện Kiều, nó tạo nên cái sức sống kỳ lạ ở hầu hết tác phẩm của Văn bảnSáng tác của Nguyễn Du được lưu hành ngay từ lúc ông còn sống. Tương truyền, Truyện Kiều được Phạm Quý Thích nhuận sắc và cho in ở phố Hàng Gai Hà Nội lúc ấy. Sau khi Nguyễn Du mất chỉ vài chục năm, vua Tự Đức từng có sớ cho quan tỉnh Nghệ An thu thập tất cả di cảo của Nguyễn Du để đưa về kinh. Từ đó đến nay, việc sưu tập, nghiên cứu phổ biến di sản văn học của Nguyễn Du vẫn còn tiếp tục. Còn có những ý kiến hồ nghi tác giả một số bài thơ chữ Hán vẫn được coi là của Nguyễn Du. Việc xác định thời điểm ra đời của các tác phẩm chưa được giải quyết, kể cả thời điểm Nguyễn Du viết Truyện Kiều. Mặc dù đã mất nhiều công sức, nhưng các ý kiến trong giới nghiên cứu vẫn còn rất khác Tác phẩm bằng chữ HánTheo gia phả họ Nguyễn Tiền Điền, thì Nguyễn Du để lại ba tập thơ chữ Hán Thanh Hiên tiền hậu tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp năm đầu thế kỷ XX, khi biên soạn cuốn Truyện cụ Nguyễn Du, các cụ Lê Thước và Phan Sĩ Bàng đã thu thập được một phần lớn những bài thơ đó, nhưng chưa công bố, chỉ mới trích dẫn một số bài lẻ tẻ mà thôi. Khoảng năm 1940-41, ông Đào Duy Anh lại làm công việc đó một lần nữa. Ông cho chúng ta biết tình hình như sauBa tập thơ chữ Hán chính họ Nguyễn Tiên Điền cũng không giữ được tập nào. Những tác phẩm bằng chữ Hán của Nguyễn Du rất nhiều, nhưng mãi đến năm 1959 mới được ba nhà nho là Bùi Kỷ, Phan Võ và Nguyễn Khắc Hanh sưu tầm, phiên dịch, chú thích và giới thiệu tập Thơ chữ Hán Nguyễn Du Nhà xuất bản Văn hóa, 1959 chỉ gồm có 102 bài. Đến năm 1965 Nhà xuất bản Văn học đã ra Thơ chữ Hán Nguyễn Du tập mới do Lê Thước và Trương Chính sưu tầm, chú thích, phiên dịch, sắp xếp, gồm 249 bài như sauThanh Hiên thi tập Tập thơ của Thanh Hiên gồm 78 bài, viết chủ yếu trong những năm tháng trước khi làm quan nhà Nguyễn. Tập thơ được sáng tác trong ba gia đoạnGiai đoạn "Mười năm gió bụi", từ năm 1786, năm Tây Sơn bắt đầu đưa quân ra Bắc Hà, cho đến năm Nguyễn Du trở về quê nhà ở Hồng Lĩnh, khoảng cuối những năm 1795 đầu năm đoạn "Dưới chân núi Hồng", từ năm 1796 đến năm 1802Giai đoạn 3 "Ra làm quan ở Bắc Hà", từ năm 1802 đến cuối năm 1804 trong giai đoạn này có lần nhà thơ được cử đi nghênh tiếp sứ thần nhà Thanh sang phong sắc cho Gia Long.Nam trung tạp ngâm Ngâm nga lặt vặt lúc ở miền Nam gồm 40 bài thơ làm từ năm 1805 đến cuối năm 1812, tức là từ khi được thăng hàm đông các học sĩ vào làm quan ở Kinh gần 4 năm cho đến hết thời kỳ làm cái cai bạ dinh Quảng Bình 3 năm, 5 tháng. Ông viết khi làm quan ở Huế, Quảng Bình và những địa phương ở phía nam Hà đầu tập thơ, Phượng hoàng lộ thượng tỏa hành, đúng là bài làm trên đường đi vào Kinh nhậm chức Từ tỉnh lỵ Hà Tĩnh đi vào có núi Phượng Hoàng và quán Phượng hoàng, và bài Nễ giang khẩu hương vọng, gần cuối tập, có câuĐộc bão hương tâm dĩ tứ niênÔm nỗi nhớ quê đã bốn năm trời.Như vậy là rất khớp. Bắc hành tạp lục Ghi chép linh tinh trong chuyến đi sang phương Bắc gồm 131 bài thơ, viết trong chuyến đi sứ sang Trung Quốc. Chúng tôi có theo dõi cuộc đi xứ này trên bản đồ theo những tài liệu mà các phái đoàn của ta gần đây đi tham quan Trung Quốc tìm được và đã đối chiếu với các bài thơ, thì thấy cách sắp xếp các bài thơ đã ổn. Bài Thăng Long tháng 2 năm 1813 và bài cuối tập là bài Chu Phát làm khi trở lại. Võ Xương cuối năm 1813. Từ đó, nhà thơ lên thuyền về Nam quan theo con đường đã đi lần trước, nên không có thơ nữa. Chỉ có một vài bài còn Cối, Vương thị vợ Tần Cối, không ở chỗ thích đáng của nó, làm ta ngờ rằng nhà thơ nhân nhớ đến những nhân vật đó mà làm thơ, chứ không phải tức cảnh sinh tình như tuyệt đại đa số các bài trong tập này. Trường hợp này giống trường hợp bài Độc Tiểu Thanh ký số 78 Thanh hiên thi tập, bài này không phải làm khi nhà thơ đi qua mộ Tiểu Thanh ở Tây Hồ, mà làm khi còn ở nhà, nên không ở trong Bắc hành tạp cách sắp xếp đó có thể hiểu được tâm sự của Nguyễn Du trong từng giai đoạn. Có thể xem ba tập thơ này là ba tập nhật ký ghi trong một khoảng thời gian dài, từ năm nhà thơ 21 tuổi 1786 cho đến năm nhà thơ 49 tuổi 1814, trước lúc chết 5 năm. Bài thơ nào cũng chứa đựng một lời tâm sự. Ngay những bài tức cảnh vịnh sử khi đi sứ Trung Quốc cũng không phải là những bài tức cảnh, vịnh sử thuần túy mà đều có bao hàm tâm sự của nhà thơ, bộc lộ thái độ sống của nhà thơ một cách hết sức rõ thơ 249 bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du là một công trình tập thể đã được Cụ Lê Thước và Trương Chính thu thập tài liệu, dịch nghĩa, chú thích, sắp xếp. Tác phẩm bằng chữ NômVề văn thơ nôm, Nguyễn Du sử dụng tài tình hai thể thơ dân tộc lục bát và song thất lục bát. Ông đã làm mới ngôn ngữ văn học Tiếng tác phẩm bằng chữ Nôm của Nguyễn Du gồm cóNguyễn Du lưu lại trong kho tàng văn học Việt Nam thiên trường thi bất hủ Đoạn Trường Tân Thanh được truyền tụng trong dân gian và được liệt vào tài liệu giáo khoa dạy ở bậc trung học. Đoạn Trường Tân Thanh là áng văn chương tuyệt tác, viết theo thể thơ lục bát gồm 3254 câu, dài nhất trong các tác phẩm xưa trường tân thanh Tiếng kêu mới về nỗi đau đứt ruột. Tên phổ biến là Truyện Kiều, được viết bằng chữ Nôm, gồm câu thơ theo thể lục bát. Nội dung của truyện dựa theo tác phẩm Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, Trung Quốc. Nội dung chính của truyện xoay quanh quãng đời lưu lạc sau khi bán mình chuộc cha của Thuý Kiều, nhân vật chính trong truyện, một cô gái có tài sắc. Về thời điểm sáng tác, Từ điển văn học bộ mới ghi "Có thuyết cho rằng Nguyễn Du viết ra sau khi ông đi sứ Trung Quốc 1814-1820, có thuyết cho nói ông viết trước khi đi sứ, có thể vào khoảng thời gian làm Cai bạ ở Quảng Bình 1804-1809. Thuyết sau được nhiều người chấp nhận hơn".Ngoài ra, Văn chiêu hồn tức Văn tế thập loại chúng sinh, dịch nghĩa Văn tế mười loại chúng sinh, là một ngâm khúc gồm có 184 câu theo thể song thất lục bát, trong đó chứa đựng tấm lòng từ bi của người Phật tử Nguyễn Du đối với cảnh khổ của muôn vạn sinh linh, cũng là một tác phẩm giá trị được nhiều học giả nghiên cứu, trích giảng. hiện chưa rõ thời điểm sáng tác. Trong văn bản do Đàm Quang Thiện hiệu chú có dẫn lại ý của ông Trần Thanh Mại trên “Đông Dương tuần báo” năm 1939, thì Nguyễn Du viết bài văn tế này sau một mùa dịch khủng khiếp làm hằng triệu người chết, khắp non sông đất nước âm khí nặng nề, và ở khắp các chùa, người ta đều lập đàn giải thoát để cầu siêu cho hàng triệu linh hồn. Ông Hoàng Xuân Hãn cho rằng có lẽ Nguyễn Du viết Văn chiêu hồn trước cả Truyện Kiều, khi ông còn làm cai bạ ở Quảng Bình 1802-1812.Thác lời trai phường nón, 48 câu, được viết bằng thể lục bát. Nội dung là thay lời anh con trai phường nón làm thơ tỏ tình với cô gái phường tế sống Trường Lưu nhị nữ, 98 câu, viết theo lối văn tế, để bày tỏ nỗi uất hận vì mối tình với hai cô gái phường vải Nôm của Nguyễn Du đều thấy chỗ đậm, chỗ nhạt những yếu tố hoặc biểu hiện của chủ nghĩa cổ điển, chủ nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa hiện thực trong văn học. Các tác phẩm thơ Nôm của ông đều thể hiện tư tưởng, tình cảm sâu sắc, tài năng nghệ thuật của ông xuyên suốt các tác phẩm của ông, xuyên suốt cuộc đời ông và thể hiện rõ nhất qua áng văn chương bất hủ là Truyện Kiều. Trước năm 1930Trong quãng thời gian hơn một trăm năm này, người bình luận các tác phẩm của Nguyễn Du là các nhà nho. Ở thế kỷ XIX, các nhà nho thường qua những bài thơ vịnh, những bài tựa mà bộc lộ cách nhìn, chính kiến của mình với tác phẩm. Sang thế kỷ XX, các nhà nho lại phát biểu bằng những bài văn chính luận. Nhưng bình luận ở giai đoạn nào họ cũng đều chia làm hai dòng khen và chê. Tuy nhiên, dù khen hay chê thì tất cả họ đều đánh giá cao nghệ thuật văn chương của Nguyễn Du. Nhưng văn chương được nhìn như có sự tách rời của hình thức với nội dung. Từ 1930 đến 1945Nghiên cứu phê bình văn học thời gian này đã thành một bộ môn riêng biệt, mang ý nghĩa hiện đại. Các tác phẩm của Nguyễn Du trong giới nghiên cứu, phê bình thấy rõ ba khuynh hướng sau Khuynh hướng phê bình ấn tượng chủ quan với các ông Hoài Thanh, Lê Tràng Kiều, Lưu Trọng Lư Khuynh Hướng giáo khoa qua những công trình của các ông Đào Duy Anh, Dương Quảng Hàm Cách tiếp cận kiểu khoa học của ông Nguyễn Bách Khoa Từ 1945 đến 1975Trong giai đoạn chia đôi đất nước này, tại miền Bắc, việc nghiên cứu các tác phẩm của Nguyễn Du trong quan hệ với hiện thực đời sống xã hội theo quan điểm mỹ học mácxít. Tác phẩm văn học được nhìn nhận như là sự phản ánh đời sống xã hội và bộc lộ thái độ của nhà văn đối với hiện thực đó. Hai công trình theo hướng này xuất hiện sớm và đáng chú ý hơn cả là cuốn Quyền sống của con người trong "Truyện Kiều" của Hoài Thanh 1949 và bài báo Đặc sắc của văn học cổ điển Việt Nam qua nội dung "Truyện Kiều" của Đặng Thai Mai 1955. Vấn đề tinh thần nhân đạo và tính hiện thực của "Truyện Kiều" được hai tác giả chú ý đặc biệt và coi là giá trị cơ bản của tác miền Nam, thời kỳ 1954–1975 cũng có nhiều người để tâm phê bình nghiên cứu các tác phẩm của Nguyễn Du. Dịp kỷ niệm 200 năm ngày sinh Nguyễn Du trên các tập san Văn số 43, 44 và Bách khoa thời đại số 209 nhiều bài phê bình được công bố. Trước đó, năm 1960, có cuốn Chân dung Nguyễn Du tập hợp một loạt bài viết về Nguyễn Du của nhiều tác giả. Trước sau năm 1970 cũng thấy một số công trình khá công phu của Phạm Thế Ngũ, Đặng Tiến, Nguyễn Đăng Thục... Từ 1980 đến nayTrong giai đoạn này, các tác phẩm của Nguyễn Du được tiếp cận bởi nhiều phương pháp mới phong cách học, thi pháp học, ký hiệu học... Đã xuất hiện một số công trình đáng chú ý của Phan Ngọc, Trần Đình Sử, Đỗ Đức Hiểu...Nhìn chung các tác giả đều cố gắng khách quan hóa việc phân tích tác phẩm, muốn làm cho các kết kuận của mình là hiển nhiên, "không còn tranh cãi". Tuy vậy mọi việc không đơn giản, các ý kiến vẫn cứ rất xa nhau, điều đó có nghĩa là những cuộc tranh luận sẽ vẫn tiếp diễn và như vậy nghiên cứu, phê bình về các tác phẩm của Nguyễn Du sẽ tiếp tục tiến tác của Nguyễn Du không thật đồ sộ về khối lượng, nhưng có vị trí đặc biệt quan trọng trong di sản văn học và văn hóa dân tộc. Hơn nữa nó lại rất năng sản. Từ Truyện Kiều đã nảy sinh biết bao những hình thức sáng tạo văn học và văn hóa khác nhau thơ ca về Kiều, các phóng tác Truyện Kiều bằng văn học, sân khấu, điện ảnh; rồi rất nhiều những dạng thức của nghệ thuật dân gian đố Kiều, giảng Kiều, lẩy Kiều, bói Kiều... Đặc biệt là số lượng rất lớn những bài bình luận, những công trình phê bình, nghiên cứu. Thơ văn viết về Nguyễn Du tríchKhi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặcNguyễn Du viết Kiều, đất nước hóa thành vănKhi Nguyễn Huệ cưỡi voi vào cửa BắcHưng Đạo diệt quân Nguyên trên sóng Bạch Đằng Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng – Chế Lan ViênTiếng thơ ai động đất trờiNghe như non nước vọng lời ngàn thu Nghìn năm sau nhớ Nguyễn DuTiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày Kính gửi cụ Nguyễn Du - Tố HữuĐời nay đẹp gấp trăm lần thuở trướcGiở trang Kiều còn rung động ý thơThơ Người mãi sống cùng đất nướcDù mai sau dù có bao giờ Thăm mộ cụ Nguyễn Du - Hoàng Trung Thông Trong mắt người nước ngoàiNguyễn Du là một nhà thơ văn lớn của thế giới lúc bấy mắt những người nước ngoài, họ coi ông là một vị thánh của nền thơ ca Việt Nam. Họ quý trọng ông vì ông đã góp công vào nền thơ ca thế giới. Ông là một nhân vật kiệt xuất của thơ ca Việt Nam Tưởng niệmNgày 17/11/2015, tại Hà Nội, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã tổ chức họp báo giới thiệu về các hoạt động kỷ niệm 250 năm ngày sinh của ông. Lễ kỷ niệm cấp quốc gia 250 năm sinh Đại thi hào Nguyễn Du 1765-2015 diễn ra ngày 05/12/2015 tại thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà với chương trình nghệ thuật “Tiếng thơ ai động đất trời” do Cục Nghệ thuật biểu diễn, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch chỉ đạo và Nhà hát Nghệ thuật đương đại Việt Nam thực hiện với sự tham gia của gần 650 nghệ sĩ12 Lễ kỷ niệm có các chuỗi hoạt động chính Tổ chức các hội thảo khoa học trong nước và quốc tế; xuất bản Truyện Kiều, các tác phẩm của Nguyễn Du ra nhiều thứ tiếng khác nhau; xây dựng phim tư liệu, các tác phẩm âm nhạc, hội họa… về thời đại, cuộc đời, sự nghiệp, tác phẩm của Nguyễn Du và dòng họ Nguyễn Tiên Điền; tổ chức các cuộc thi tìm hiểu, thi ngâm Kiều, lẩy Kiều, bình Kiều, diễn trò Kiều, nói chuyện về tác phẩm của Nguyễn Du; tổ chức các hoạt động hưởng ứng kỷ niệm tại Thủ đô Hà Nội là nơi sinh và tại tỉnh Bắc Ninh quê mẹ của ông; tuần Văn hóa, Du lịch Nguyễn Du, bắt đầu từ ngày 28/11 đến 05/12/2015 tại Hà cạnh đó, từ 17/11 đến 25/11/2015 tại Thư viện Khoa học tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh diễn ra Tuần triển lãm về Nguyễn Du do Thư viện Khoa học tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh và Công ty Cổ phần Văn hóa và Truyền thông Nhã Nam tổ chức. Triển lãm quy tụ tương đối đầy đủ các ấn bản bằng chữ Quốc ngữ, chữ Hán, chữ Nôm những sáng tác của Nguyễn Du cũng như các công trình nghiên cứu, biên khảo, chú thích về Nguyễn Du của nhiều lớp học giả. Điểm nhấn của triển lãm là những bản Nôm gốc như bản in Kim Vân Kiều tân tập năm Bính Ngọ, niên hiệu Thành Thái - 1906, bản chép tay Kim Vân Kiều thích chú Kỷ Mão 1879. Ngoài ra, còn có 20 bức thư pháp của các thành viên Chi hội Thư pháp Hội Văn học Nghệ thuật các dân tộc thiểu số Thành phố Hồ Chí Minh cũng sẽ được trưng bày với nội dung là những trích đoạn các sáng tác của Nguyễn Du Truyện Kiều, Văn tế thập loại chúng sinh….13 Chú thích ^ “Long trọng Kỷ niệm 250 năm sinh Đại thi hào Nguyễn Du”. Báo điện tử Dân Trí. Truy cập 23 tháng 5 năm 2017. ^ Theo "Tuyển tập Trương Chính" Nhà xuất bản Văn học 1997. Bà Tần là vợ trắc thất hàng thứ ba, bà sinh ngày mồng 6 tháng 7 năm Canh Thân, niên hiệu Cảnh Hưng. Bà lấy chồng năm 16 tuổi, năm 17 tuổi bà sinh con đầu lòng là Nguyễn Trụ 1757, sau bà còn có năm bà khác nữa ^ Từ điển văn học bộ mới, tr. 1120. ^ Nguyễn Du về tác gia và tác phẩm, nxb Giáo dục, 2002, tr 27 ^ Nguyễn Du về tác gia và tác phẩm, Nhà xuất bản Giáo dục, 2002, tr 27-30. ^ Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, tập 2, Nhà xuất bản Giáo dục, 2007, tr. 82-83. Dẫn lại tại [1] ^ Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện, tập 2, Nhà xuất bản Thuận Hóa, Huế, 1997, tr. 357. Dẫn lại tại [2] ^ Trịnh Văn Định, Những cách thế lựa chọn của kẻ sĩ tinh hoa trong lịch sử, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Tập 29, số 2 2013, trang 10-18 ^ Nguyễn Huệ Chi, Tạp chí Văn học, tháng 11-1966Nguyễn Du-Về tác gia và tác phẩm ^ Nguyễn Du về tác gia và tác phẩm, nxb Giáo dục, 2002, trang 11-12 ^ “Nhiều hoạt động kỷ niệm 250 ngày sinh Đại thi hào Nguyễn Du”. ^ “650 nghệ sĩ tham gia đêm nghệ thuật kỷ niệm 250 năm Ngày sinh Nguyễn Du”. ^ “Hoạt động Kỷ niệm 250 năm ngày sinh đại thi hào Nguyễn Du”. Tham khảo Từ điển văn học bộ mới. Nhà xuất bản Thế giới, 2004. Thơ chữ Hán Nguyễn Du phần giới thiệu của Trương Chính. Nhà xuất bản Văn học, 1978 Phạm Thế Ngũ, Việt Nam văn học sử giản ước tân biên Quyển 2. Quốc học tùng thư xuất bản, Sài Gòn, 1963. Thạch Trung Giả, Văn học phân tích toàn thư. Nhà xuất bản Lá Bối, 1973. Thanh Lãng, Bảng lược đồ văn học Việt Nam quyển Thượng. Nhà xuất bản Trình Bày, Sài Gòn, 1967. Nguồn Wikipedia
Danh ngôn hay – Những câu danh ngôn hay nhất mọi thời đại về cuộc sống, tình yêu, tình bạn..Những câu danh ngôn ngắn gọn mà ý nghĩa sâu sắc đối với cuộc sống của mỗi người.
câu thơ về nguyễn du